MỞ ĐẦU Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nước mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Nước thải được thải trực tiếp vào các dòng kênh, sông xung quanh làng nghề mà không hề qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Để xử lý hết tất cả các chất độc hại có trong nước thải là một vấn đề khó khăn và nan giải, cần nhiều thời gian, kinh phí để giải quyết. Trong đó, nước thải của các làng nghề tái chế giấy là rất đặc trưng và có khối lượng lớn. Tại các làng nghề tái chế giấy này, công nhân và người dân lao động bị mắc các bệnh về hô hấp, ngoài da và thần kinh rất cao. Ví dụ như: Tại xã Phong Khê (Bắc Ninh), tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp, ngoài da, đường ruột có xu hướng tăng nhanh.
Kinh tế ở làng Phong Khê phát triển được là do nghề làm giấy, tuy nhiên phải trả giá bằng chính sức khỏe. Từ trẻ con cho đến người lớn trong làng thường xuyên bị mắc các bệnh về đường hô hấp như ho, viêm phổi… Đặc biệt, các gia đình phải giữ trẻ trong nhà đóng cửa kín để tránh khói bụi. Theo thống kê tỉ lệ các ca bệnh bị mắc ung thư và tử vong vì ung thư ở địa phương có tăng trong một vài năm gần đây [2]. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số hoạt động sản xuất trong các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và làng nghề.
Trong đó làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Trong những năm gần đây, với sự giúp đỡ của các ban ngành làng nghề đã ngày một phát triển và thể hiện rõ hơn nét đặc sắc trên nhiều phương diện: Kinh tế, xã hội, du lịch,. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì một trong những thách thức đang đặt ra 1 z đối với các làng nghề là vấn đề môi trường và sức khỏe của người lao động, cộng đồng dân cư đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nước cũng như các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề.
Đã có nhiều làng nghề thay đổi phương thức sản xuất cũng như quản lý môi trường và thu được hiệu quả đáng kể. Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trường ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Làng nghề tái chế giấy với những đóng góp không nhỏ vào nhu cầu sử dụng trong đời sống con người, giải quyết được vấn đề việc làm nhằm cải thiện được đời sống vật chất cho người dân nhưng bên cạnh đó các vấn đề ô nhiễm môi trường như: ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí, chất thải rắn, ô nhiễm nước cũng ngày càng gia tăng. Trong đó vấn đề nổi cộm là ô nhiễm nguồn nước mặt.
Cũng như các làng nghề tái chế giấy khác, làng nghề tái chế giấy Phong Khê - Bắc Ninh một làng nghề điển hình trong loại làng nghề tái chế giấy về qui mô sản xuất, trình độ công nghệ, trang thiết bị và tiềm lực lao động, cũng không thể tránh khỏi các vấn đề về ô nhiễm môi trường và sức khỏe lao động. Nằm ngay sát dòng sông Ngũ huyện Khê, làng nghề tái chế giấy Phong Khê có khoảng hơn 200 cơ sở sản xuất giấy với quy mô hộ gia đình hoạt động ngày đêm, từ cảnh khó khăn của một làng nghề giấy dó thủ công, Phong Khê đã trở thành đầu tàu về phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh [17]. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm của làng nghề Phong Khê hiện nay đang ở tình trạng báo động, không chỉ là khói bụi độc hàng ngày thải ra môi trường, hay rác thải tràn ngập đường làng xóm ngõ, theo ước tính mỗi ngày làng nghề này thải ra môi trường 5.000 m3 nước, qua các kênh mương và cống trong làng. Các ao hồ đặc biệt dòng sông Ngũ huyện Khê chảy qua địa phương đang phải ngày đêm hứng chịu một lượng lớn nước thải độc hại, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, cuộc sống của nhân dân tại khu vực làng nghề và lân cận.
Vì những lý do kể trên, việc tiến hành thực hiện đề tài “ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ GIẤY PHONG KHÊ BẮC NINH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC” sẽ có ý nghĩa 2 z thiết thực và cấp bách kể cả về mặt kinh tế và mặt xã hội, góp phần bảo vệ môi trường sống an toàn và bền vững cho nhân dân sống trong vùng làng nghề. Mục tiêu Đánh giá được hiện trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề giấy Phong Khê, tỉnh Bắc Ninh. Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề Giấy Phong Khê, tỉnh Bắc Ninh. Nội dung nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng sản xuất của làng nghề và xác định các nhân tố ảnh hưởng tới môi trường làng nghề giấy Phong Khê.
- Đánh giá hiện trạng công tác QLMT và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp đối với làng nghề giấy. - Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường của làng nghề làm cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo vệ, cải thiện môi trường làng nghề. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam 1. Lịch sử phát triển và hình thành của làng nghề ở Việt Nam Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển KT-XH của đất nước.
Như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát tràng (Hà Nội văn hóa và nông) cũng gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) cũng điển hình thành cách đây hơn 400 năm,… [4] Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công mà còn là điểm văn hóa của vùng. Làng nghề là nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm trong làng. Ngoài ra, làng nghề cũng chính là điểm tập kết nguyên vật liệu, là nơi tập trung những tinh hoa trong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng. Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiêu thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển.
Quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển làng nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề làm tăng mức thu nhập bình quân của người dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến. Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn. Hiện trang phân bố các làng nghề Việt Nam Bảng 1. Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam Chế biến, Ƣơm tơ, Thủ Vật liệu nông sản, Tái chế Nghề Miền dệt nhuộm, công mỹ xây dựng, thực phế liệu khác đồ da nghệ gốm sứ phẩm Miền Bắc 138 134 61 404 17 222 Miền Trung 24 42 24 121 9 77 Miền Nam 11 21 5 93 5 42 Tổng 173 197 90 618 31 341 Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, mật độ phân bố dân cư, điều kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự phân bố và phát triển làng nghề giữa các vùng của nước ta là không đồng đều, thường tập trung ở những khu vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nông nhàn.
Theo số liệu của Bộ NN&PTNT tình đến 31/12/2016 cả nước có 1864/5411 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận. Trong thời gian qua, nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động. Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2014, số làng nghề và làng 5 z có nghề nước ta là 5.096, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1. Số lượng làng nghề miền Bắc chiếm gần 60% số lượng các làng nghề trong cả nước, trong đó tập trung nhiều nhất và phát triển mạnh nhất là ở vùng ĐBSH, khu vực miền Trung chiếm khoảng 23,6% và khu vực miền Nam chiếm khoảng 16,6% tổng số làng nghề (Biểu đồ 1.
Phân loại Mỗi hình thức làng nghề được phân loại dựa trên những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu khác nhau về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đối với mỗi trường. Ta có thể phân làng nghề thành những loại sau: a) Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới; b) Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm; c) Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ; d) Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm; e) Theo mức độ sử dụng nguyên/ nhiên liệu; f) Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển.