Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 đã ghi nhận bước tăng trưởng nhảy vọt với mức tăng doanh thu bình quân trên 35%/năm, đạt quy mô 850 triệu USD vào năm 2009 so với mức chỉ vài chục triệu USD vào năm 2000. Lực lượng lao động trực tiếp trong ngành đạt khoảng 64.000 người vào cuối năm 2009 với mức thu nhập bình quân khoảng 4.250 USD/người/năm, cao gấp gần 4 lần mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước trong cùng thời kỳ (khoảng 1.100 USD).

Mặc dù đạt được những chỉ số tăng trưởng ấn tượng và đưa Việt Nam vào top 10 điểm đến gia công phần mềm hấp dẫn nhất thế giới, ngành phần mềm vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn cốt lõi. Trình độ phát triển chung của toàn ngành còn ở mức thấp, quy mô doanh nghiệp manh mún, hàm lượng giá trị gia tăng nội địa chưa tương xứng với tiềm năng và năng lực cạnh tranh còn khoảng cách khá xa so với các trung tâm công nghệ trong khu vực như Ấn Độ hay Trung Quốc.

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển của tác giả Vũ Thị Thu Hương (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, năm 2011) được thực hiện nhằm giải quyết câu hỏi trung tâm: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam đang diễn ra như thế nào và đâu là những nhân tố chủ yếu tác động trực tiếp đến sức cạnh tranh của ngành? Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp ngành, đánh giá toàn diện hiện trạng giai đoạn 2000 - 2010, phân tích sâu các rào cản nội tại và xây dựng hệ thống gợi ý chính sách nhằm nâng cao vị thế của ngành đến năm 2020.

Ý nghĩa kinh tế của nghiên cứu được khẳng định qua hệ số ICOR (tỷ số vốn/sản lượng tăng thêm) của ngành phần mềm tại Công viên phần mềm Quang Trung chỉ ở mức khoảng 2,0 vào năm 2008, trong khi hệ số ICOR bình quân của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008 lên tới 4,5. Điều này chứng minh công nghiệp phần mềm là ngành kinh tế tri thức có hiệu quả sử dụng vốn vượt trội, tỷ suất giá trị gia tăng đạt trên 80%, đóng vai trò hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên việc tổng hợp và kế thừa các lý thuyết kinh điển về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh quốc tế:

  • Mô hình Kim cương (The Diamond Model) của Michael Porter (1990): Khung phân tích nền tảng đánh giá 4 thuộc tính nội sinh định hình lợi thế cạnh tranh quốc gia và ngành gồm: Điều kiện các yếu tố sản xuất; Điều kiện về cầu; Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan; Chiến lược, cấu trúc và môi trường cạnh tranh nội địa; kết hợp cùng hai biến số ngoại sinh là vai trò của Chính phủ và các yếu tố ngẫu nhiên.
  • Mô hình Kim cương đúp mở rộng của Moon, Rugman và Verbeke (1995): Bổ sung yếu tố hội nhập và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu cho các nền kinh tế đang phát triển.
  • Mô hình Tài sản - Quá trình - Hiệu quả (APP Model) của Momaya (1998, 2004) và khung phân tích thực nghiệm ngành phần mềm Ấn Độ, Trung Quốc của Stanley Nollen (2003 - 2004).

Từ nền tảng lý thuyết trên, tác giả đúc kết các khái niệm cốt lõi: Năng lực cạnh tranh cấp ngành là khả năng duy trì, nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành trong việc huy động hiệu quả các nguồn lực sản xuất, mở rộng thị phần và thích ứng linh hoạt trước áp lực tái cấu trúc toàn cầu. Trên cơ sở đó, mô hình đánh giá 6 nhân tố chủ yếu tác động đến ngành phần mềm Việt Nam được thiết lập gồm: Nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý; Trình độ công nghệ và R&D; Mối liên kết mạng lưới trong và ngoài nước; Cơ sở hạ tầng kỹ thuật; Môi trường kinh doanh; Thể chế và chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp giữa dữ liệu định lượng thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp trên diện rộng:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước, cùng các báo cáo xếp hạng uy tín toàn cầu của Gartner, Tholons, AT Kearney, WEF, ITU và EIU giai đoạn 2000 - 2010. Dữ liệu sơ cấp được trích xuất từ cuộc khảo sát toàn diện các doanh nghiệp công nghệ thông tin do Hội Tin học TP. Hồ Chí Minh (HCA) thực hiện vào tháng 6/2010 và bộ dữ liệu Khảo sát toàn cảnh ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam các năm 2009 và 2010 do Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA) triển khai.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Mẫu khảo sát bao phủ trên 100 doanh nghiệp phần mềm tiêu biểu, được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng gồm nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ (dưới 150 lao động, chiếm hơn 70% mẫu) và nhóm doanh nghiệp quy mô lớn (từ 200 đến trên 1.000 lao động như FPT Software, TMA Solutions, CSC Việt Nam, Harvey Nash).
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích tỷ trọng cơ cấu, ma trận đánh giá tầm quan trọng - mức độ hài lòng (IPA) và ma trận SWOT. Phương pháp này được lựa chọn vì tính tương thích cao với đặc thù ngành kinh tế tri thức, cho phép đo lường đồng thời cả các chỉ tiêu định lượng cứng (doanh thu, lãi suất, vốn, nhân sự) lẫn các đánh giá định tính về thể chế và môi trường kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam trong giai đoạn 10 năm chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhưng quy mô doanh nghiệp còn rất nhỏ bé. Giai đoạn 2000 - 2009, doanh thu toàn ngành tăng từ khoảng 50 triệu USD lên 850 triệu USD (trong đó thị trường nội địa chiếm 510 triệu USD, xuất khẩu chiếm 340 triệu USD). Toàn ngành có khoảng 1.000 doanh nghiệp hoạt động năm 2010, tăng gấp 6 lần sau 10 năm. Tuy nhiên, chỉ có 5 doanh nghiệp đạt chứng chỉ quy trình quản lý chất lượng phần mềm quốc tế CMMI mức cao nhất (Level 5) và khoảng 50 doanh nghiệp đạt CMMI 3 - 4 hoặc ISO-9001. Đa phần các đơn vị còn lại có quy mô siêu nhỏ, thiếu năng lực đấu thầu các dự án quốc tế lớn.

Thứ hai, nghịch lý về chất lượng nguồn nhân lực và rào cản kỹ năng mềm. Mặc dù gần 60% nhân sự trong ngành có trình độ đại học/cao đẳng và 10% có trình độ sau đại học (vượt xa tỷ lệ bình quân chung của lực lượng lao động cả nước là 15%), nhưng chỉ số sẵn sàng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ xếp thứ 27 trên thế giới và đứng thứ 8 tại khu vực châu Á vào năm 2010. Đáng chú ý, tỷ lệ lao động kỹ thuật tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng thành thạo tiếng Anh chỉ đạt 34,2%, tiếng Nhật đạt khoảng 1,2% và các ngoại ngữ khác dưới 0,5%.

Thứ ba, điểm nghẽn về vốn và cơ chế tài chính. Mặt bằng lãi suất cơ bản biến động mạnh từ 7,0%/năm đến 14,0%/năm trong giai đoạn 2000 - 2010, đẩy lãi suất vay thương mại thực tế lên ngưỡng 12% - 18%/năm. Do đặc thù tài sản của doanh nghiệp phần mềm chủ yếu là tài sản vô hình (trí tuệ, con người) nên hơn 80% doanh nghiệp không thể tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng do thiếu tài sản vật chất thế chấp. Khoảng 32,5% doanh nghiệp phải dựa vào hỗ trợ tài chính từ ngân hàng với chi phí vốn đắt đỏ, trong khi các quỹ hỗ trợ của Chính phủ chỉ đáp ứng được khoảng 16,7% nhu cầu khảo sát.

Thứ tư, bất cập về hạ tầng viễn thông và tâm lý thị trường nội địa. Có tới 47% doanh nghiệp phần mềm phản ánh chất lượng mạng internet không ổn định và 17% phàn nàn về băng thông không đủ đáp ứng yêu cầu truyền tải dữ liệu lớn. Về phía cầu, hơn 60% thị phần phần mềm doanh nghiệp giá trị cao trong các ngành ngân hàng, viễn thông, điện lực vẫn thuộc về các nhà cung cấp nước ngoài do tâm lý ưa chuộng giải pháp ngoại của khách hàng trong nước.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  HIỆN TRẠNG NGÀNH PHẦN MỀM VIỆT NAM                     |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Doanh thu năm 2009: 850 triệu USD       | Nhân lực: 64.000 lao động     |
| - Nội địa: 510 triệu USD (60%)          | - Đại học/Cao đẳng: ~60%      |
| - Xuất khẩu: 340 triệu USD (40%)        | - Sau đại học: ~10%           |
+-----------------------------------------+-------------------------------+
| Chứng chỉ chất lượng CMMI Level 5: 5 DN | Tiếng Anh thành thạo: 34,2%   |
| Hệ số ICOR phần mềm: 2,0                | Băng thông/Mạng kém: 47% DN   |
+-------------------------------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua biểu đồ tăng trưởng doanh thu giai đoạn 2000 - 2009, có thể nhận thấy mức độ phụ thuộc lớn của ngành vào các hợp đồng gia công xuất khẩu (BPO/Outsourcing) giá trị gia tăng thấp. Nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn nhân lực thiếu tính cạnh tranh bắt nguồn từ sự lệch pha trong chương trình đào tạo đại học. Điển hình tại một trường đại học hàng đầu, trong tổng số 186 tín chỉ toàn khóa thì khối kiến thức giáo dục đại cương chiếm tới 91 tín chỉ, khối cơ sở lý thuyết chiếm 49 tín chỉ, trong khi khối kiến thức chuyên ngành chỉ vỏn vẹn 19 tín chỉ.

Khi so sánh với mô hình phát triển phần mềm của Ấn Độ theo nghiên cứu của Stanley Nollen, sự khác biệt nằm ở chỗ Ấn Độ xây dựng được chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu với tập đoàn đa quốc gia và sở hữu lực lượng kỹ sư thông thạo Anh ngữ vượt trội. Dữ liệu khảo sát từ ma trận đánh giá tầm quan trọng và mức độ hài lòng chỉ ra rằng các yếu tố thể chế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chính sách thuế ưu đãi dù được đánh giá có tầm quan trọng trên 4,5/5 điểm nhưng mức độ hài lòng của doanh nghiệp chỉ đạt dưới 2,8/5 điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành phần mềm:

  1. Đổi mới căn bản chương trình đào tạo nhân lực công nghệ cao:

    • Hành động: Cắt giảm tối thiểu 30% khối lượng kiến thức đại cương không cần thiết, nâng tỷ trọng thực hành chuyên ngành lên tối thiểu 40% tổng thời lượng đào tạo; bắt buộc chuẩn đầu ra tiếng Anh đạt tương đương TOEIC 600 đối với sinh viên tốt nghiệp ngành phần mềm.
    • Chỉ tiêu: Đáp ứng mục tiêu đào tạo 130.000 kỹ sư phần mềm chất lượng cao vào năm 2020.
    • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2011 - 2015.
    • Chủ thể: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp cùng Bộ Thông tin và Truyền thông và các trường đại học chuyên ngành.
  2. Thiết lập cơ chế tín dụng đặc thù và quỹ đầu tư mạo hiểm:

    • Hành động: Xây dựng quy chế cho phép định giá tài sản trí tuệ, bản quyền phần mềm và hợp đồng kinh tế làm tài sản bảo đảm tiền vay; thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia dành riêng cho hoạt động R&D phần mềm với quy mô hỗ trợ chiếm 10% - 15% tổng ngân sách nghiên cứu của doanh nghiệp.
    • Chỉ tiêu: Tăng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi từ mức 16,7% lên 45% vào năm 2016.
    • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2012 - 2016.
    • Chủ thể: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ.
  3. Kích cầu thị trường nội địa thông qua mua sắm công và ứng dụng CNTT:

    • Hành động: Ban hành quy định bắt buộc sử dụng các giải pháp phần mềm sản xuất trong nước đối với các dự án hiện đại hóa hành chính công, y tế, giáo dục và quản lý đô thị khi sản phẩm nội địa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật.
    • Chỉ tiêu: Nâng tỷ trọng tiêu thụ phần mềm nội địa trong khối cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước lên mức 70% vào năm 2020.
    • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2011 - 2020.
    • Chủ thể: Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.
  4. Nâng cấp hạ tầng băng thông rộng và hoàn thiện chuỗi công viên phần mềm:

    • Hành động: Giảm 20% - 30% giá cước thuê kênh truyền quốc tế chuyên dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu phần mềm; mở rộng chính sách ưu đãi miễn tiền thuê đất trong 5 năm đầu tại các khu công nghệ cao và công viên phần mềm tập trung tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.
    • Chỉ tiêu: 100% doanh nghiệp trong khu tập trung được tiếp cận đường truyền cáp quang tốc độ cao đạt tiêu chuẩn quốc tế.
    • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2011 - 2015.
    • Chủ thể: Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng các tập đoàn viễn thông (VNPT, Viettel) và Ban quản lý các khu công viên phần mềm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo các Bộ, Sở Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng các chỉ số về ICOR, dữ liệu đánh giá thể chế và phân tích rào cản viễn thông để xây dựng các quy hoạch phát triển CNTT, chiến lược kinh tế tri thức tầm nhìn 2020 - 2030.
  2. Lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp công nghệ thông tin: Các giám đốc điều hành (CEO), quản lý dự án (Project Manager) tại các công ty phần mềm ứng dụng mô hình đánh giá nguồn lực, đối chiếu tỷ trọng nhân sự và các chuẩn mực CMMI để tái cấu trúc quy trình quản trị, xây dựng chiến lược R&D và định hướng thị trường gia công xuất khẩu.
  3. Các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu: Ban giám hiệu, trưởng khoa công nghệ thông tin tại các trường đại học tham khảo cấu trúc phân tích khoảng cách kỹ năng để điều chỉnh khung chương trình đào tạo, tích hợp đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành và kỹ năng mềm gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế: Các nhà nghiên cứu kinh tế phát triển, quản trị kinh doanh sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp áp dụng mô hình Kim cương của Porter và mô hình APP trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp ngành tại một quốc gia đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao ngành công nghiệp phần mềm lại được xem là ngành kinh tế chiến lược mũi nhọn của Việt Nam?
Ngành công nghiệp phần mềm sở hữu hệ số ICOR rất thấp (khoảng 2,0 so với mức 4,5 của toàn nền kinh tế), thể hiện hiệu quả sử dụng vốn vượt trội. Sản phẩm phần mềm có tỷ suất giá trị gia tăng đạt trên 80%, không gây ô nhiễm môi trường, đóng vai trò công nghệ nền tảng giúp nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) cho toàn bộ các ngành kinh tế khác.

Rào cản lớn nhất đối với nguồn nhân lực phần mềm Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở số lượng mà nằm ở chất lượng chuyên sâu và kỹ năng mềm. Có tới gần 60% nhân lực có bằng đại học/cao đẳng nhưng chỉ 34,2% lao động kỹ thuật tại doanh nghiệp vừa và nhỏ thành thạo tiếng Anh. Chương trình đào tạo đại học còn nặng tính lý thuyết hàn lâm (chiếm hơn 75% khối lượng tín chỉ), dẫn đến việc sinh viên thiếu kỹ năng thực tế khi gia nhập thị trường.

Vị thế của Việt Nam trên bản đồ gia công phần mềm toàn cầu giai đoạn 2009 - 2010 được đánh giá ra sao?
Theo xếp hạng của Tholons (2009), Việt Nam đứng thứ 9 trong top 10 quốc gia hàng đầu về gia công phần mềm, trong đó TP. Hồ Chí Minh xếp thứ 5 và Hà Nội xếp thứ 10 trong 50 thành phố mới nổi. Theo AT Kearney (2010), Việt Nam vươn lên vị trí thứ 8 thế giới về độ hấp dẫn điểm đến gia công công nghệ.

Tại sao các doanh nghiệp phần mềm vừa và nhỏ rất khó tiếp cận vốn vay ngân hàng?
Doanh nghiệp phần mềm chủ yếu sở hữu tài sản vô hình là chất xám, thuật toán và mã nguồn, trong khi hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam yêu cầu tài sản bảo đảm phải là bất động sản hoặc máy móc hữu hình. Thêm vào đó, biên độ lãi suất cho vay giai đoạn 2008 - 2010 dao động ở mức cao (12% - 18%/năm), vượt quá sức chịu đựng chi phí vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp.

Khung lý thuyết nào được tác giả kết hợp để đánh giá năng lực cạnh tranh ngành phần mềm?
Tác giả đã chuyển đổi Mô hình Kim cương hoàn chỉnh của Michael Porter (1990) kết hợp với Khung phân tích năng lực cạnh tranh ngành phần mềm của Stanley Nollen (2003 - 2004) và mô hình APP của Momaya (1998) để xác lập 6 nhân tố đánh giá: Nguồn nhân lực, Công nghệ, Mạng lưới liên kết, Cơ sở hạ tầng, Môi trường kinh doanh và Thể chế chính sách.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện quá trình phát triển 10 năm (2000 - 2010) của ngành phần mềm Việt Nam với tốc độ tăng trưởng doanh thu ấn tượng trên 35%/năm, đạt 850 triệu USD và thu hút 64.000 lao động.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các hạn chế cốt tử: Quy mô doanh nghiệp nhỏ bé, chỉ 5 đơn vị đạt CMMI-5; nhân lực thiếu kỹ năng thực hành và ngoại ngữ (tiếng Anh thành thạo chỉ đạt 34,2%); tiếp cận vốn tín dụng gặp rào cản tài sản thế chấp.
  • Hệ thống hóa thành công khung lý thuyết đa tầng, chuyển đổi mô hình Kim cương của Porter và nghiên cứu của Stanley Nollen phù hợp với thực tiễn ngành kinh tế tri thức tại Việt Nam.
  • Đưa ra hệ giải pháp đồng bộ gồm 4 trụ cột: Tái cấu trúc chương trình đào tạo đại học, thành lập cơ chế tín dụng tài sản trí tuệ, kích cầu thị trường phần mềm nội địa qua mua sắm công và nâng cấp hạ tầng băng thông viễn thông.
  • Các khuyến nghị chính sách tạo lập cơ sở khoa học vững chắc phục vụ mục tiêu đưa doanh thu ngành phần mềm đạt mốc 3,5 tỷ USD và quy mô 130.000 kỹ sư chuyên nghiệp vào năm 2020.

Để tiếp tục hoàn thiện và phát triển các hàm ý nghiên cứu của luận văn trong kỷ nguyên số hiện nay, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp công nghệ cần nhanh chóng hiện thực hóa lộ trình liên kết "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp", ưu tiên đầu tư vào hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) và xây dựng thương hiệu phần mềm Việt Nam vững mạnh trên trường quốc tế.