CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Phương pháp phân tích tương quan Mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các biến, trong đó sự biến động của một biến này là do tác động của nhiều biến khác được gọi là liên hệ tương quan (Tăng Văn Khiêm, 2005) Phân tích tương quan là tìm ra mối liên hệ giữa hai nhân tố xem chúng tuân theo quy luật nào (có thể mô tả bằng mô hình toán học nào). Các quy luật đó đều được biểu diễn bằng một hàm số.
Quá trình phân tích tương quan bao gồm: - Phân tích định tính về bản chất của mối quan hệ, đồng thời dùng phương pháp đồ thị hoặc phân tổ để xác định tính chất và xu thế của mối quan hệ đó. - Biểu hiện cụ thể mối liên hệ tương quan bằng phương trình hồi quy tuyến tính hoặc phi tuyến tính và tính các tham số của các phương trình. - Đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan bằng các hệ số tương quan hoặc tỷ số tương quan. Có thể sử dụng nhiều công thức tính hệ số tương quan khác nhau cho những tình huống khác nhau.
Hệ số tương quan được biết đến nhiều nhất là hệ số tương quan Pearson được đưa ra trước tiên bởi Francis Galton tính bằng cách chia hiệp phương sai (covariance) của hai biến với tích độ lệch chuẩn (standard deviation) của chúng. Hệ số tương quan ρX, Y giữa hai biến ngẫu nhiên X và Y với kỳ vọng tương ứng là μX; μY và độ lệch chuẩn σX; σY được định nghĩa: trong đó E là toán tử tính kỳ vọng và cov là hiệp phương sai. Một công thức khác cũng được sử dụng rộng rãi là: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì μX = E(X), σX2 = E[(X - E(X))2] = E(X2) − E2(X) và tương tự đối với Y, và vì nên ta có thể viết lại: Nếu các biến là độc lập thống kê thì hệ số tương quan bằng 0. Tuy nhiên, phát biểu ngược lại không đúng, vì hệ số tương quan chỉ phát hiện tương quan tuyến tính giữa hai biến.
Như vậy, hệ số tương quan được định nghĩa như vậy chỉ đúng nếu các độ lệch chuẩn là có giới hạn và khác không. Hệ số tương quan bằng 1 trong trường hợp có tương quan tuyến tính đồng biến và -1 trong trường hợp tương quan tuyến tính nghịch biến (r = 1 và r = -1 đều là mức độ tương quan tuyệt đối). Các giá trị khác trong khoảng (-1,1) cho biết mức độ phụ thuộc tuyến tính giữa các biến. Hệ số tương quan càng gần với -1 thì tương quan giữa các biến càng mạnh theo tiêu cực (tương quan nghịch) và càng gần 1 thì tương quan giữa các biến càng mạnh theo hướng tích cực (tương quan thuận).
Mức độ tương quan được đánh giá như sau: 0,1 r 0,3 : mức tương quan yếu 0,3 r 0,5 : mức tương quan trung bình r 0,5 : mức tương quan mạnh Chiều và mức độ tương quan là hai đặc tính riêng biệt. Đồ thị dưới đây biểu thị mối tương quan với các hệ số tương quan lần lượt là r = -0,9; r = 0,0 và r = 0,9. Dựa vào hình vẽ có thể thấy mức độ tương quan đều bằng 0,9, nhưng chiều của hai mối tương quan là hoàn toàn trái ngược nhau: với hệ số r = -0,9, đây là mối tương quan theo chiều nghịch và hệ số r = 0,9 tương ứng là mối tương quan theo chiều thuận. Hệ số tương quan r = 0,0 cho thấy hai biến số không có liên quan tới nhau, hệ số tương quan càng tiến về 0 thì mức độ tương quan càng giảm.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chiều hướng và mức độ của hệ số tương quan r 1. Phương pháp kiểm định Khi bình phương Trong toán học thống kê, Khi bình phương là một dạng phân phối ngẫu nhiên dùng để xác định số liệu thu được trong thực tế có phù hợp với giả thuyết H0 đã biết trước hay không. Theo phân phối Khi bình phương, trị số χ2 được tính theo công thức sau: Trong đó: + χ2: Khi bình phương + O: số liệu thực tế trong từng phép thử + E: số liệu dự kiến theo giả thuyết Ho 1.
Đánh giá năng lực 1. Đánh giá Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị. Theo từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá kết quả học tập là quá trình trình bày, thu thập, tích hợp và cung cấp thông tin một cách có hệ thống giúp cho việc đưa ra nhận định, phán xét hay gán giá trị theo một thang đo nhất định cho một SV, một lớp học, một chương trình đào tạo. để từ đó đưa ra những quyết định có liên quan đến các đối tượng này. Ngoài ra, đánh giá luôn luôn bao gồm sự phán đoán về mặt giá trị liên quan đến kết quả mong đợi. Như vậy, đánh giá liên quan đến cả hai vấn đề: mô tả về mặt số lượng (đo lường) và mô tả về mặt chất lượng (không phải đo lường), vì vậy khi đánh giá được dựa trên đo lường thì nó đi vượt quá sự mô tả về mặt số lượng.
Điều cần nhấn mạnh trong việc đánh giá ở lớp học là kết quả học tập đạt đến phạm vi nào. Học sinh có thể làm các bài tập kiểm tra chính xác và nhanh như thế nào? Việc hiểu hệ thống các con số của chúng khá hơn bao nhiêu? Chúng có tiến bộ gì ở môn tập đọc? Nếu có thì bao nhiêu? Chúng có tiến bộ trong việc thực hiện các kỹ năng học tập không và chúng sử dụng thời gian có hiệu quả không? Nếu có thì bao nhiêu? Chữ viết của chúng có rõ ràng hơn không? Chúng có biết áp dụng các khái niệm vào khoa học và xã hội không? Đây là những câu hỏi tiêu biểu mà người giáo viên phải chuẩn bị để tự hỏi mình và để trả lời cho học sinh. Bởi vậy việc áp dụng đa dạng các phương pháp kiểm tra cần thiết và các chương trình đánh giá đúng đắn sẽ bao gồm cả các kỹ thuật đo lường và không đo lường. Năng lực Năng lực là một khái niệm nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục.
Bản thân thuật ngữ năng lực (competence) trong tiếng Anh cũng có nhiều từ gần nghĩa trong ngôn ngữ này như “năng lực hành vi” (competence behavior), “năng lực thành phần” (aptitude), “khả năng đã được phát triển” (developed abilities), “sự thành thạo” (proficiencies), “khả năng” (ability), “trình độ” (qualification), “kỹ năng” (skill) v. Đặc biệt, những năm gần đây, thuật ngữ này lại càng nhận được sự quan tâm nhiều hơn. Các nghiên cứu còn ghi nhận rằng thuật ngữ này đôi khi bị lạm dụng. Tuy nhiên, có một số định nghĩa năng lực được công nhận và sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong từ điển bách khoa toàn thư quốc tế về khoa học xã hội và khoa học hành vi, năng lực được hiểu là một hệ thống các khả năng, sự thành thạo, hay kỹ năng cần thiết hoặc đủ để giúp một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức hoàn thành được tốt một việc nhằm đạt được một mục đích cụ thể nào đó. Như vậy, năng lực của một cá nhân là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho người đó hoàn thành một công việc hay yêu cầu trong những tình huống học tập, công việc hoặc cuộc sống… Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc của cá nhân đó sẽ phản ánh năng lực của người đó. Trong một báo cáo về năng lực trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế của Đức năm 1998, năng lực được định nghĩa là tích của kiến thức, kinh nghiệm và khả năng phán đoán (power of judgment). Theo báo cáo này, kiến thức là nền tảng của năng lực, kinh nghiệm là phương thức mang tính thói quen để một cá nhân sử dụng kiến thức đã được trang bị cũng như những kiến thức mới.
Trong khi đó, khả năng phán đoán là một tiêu chí thể hiện sự độc lập giữa kiến thức và việc sử dụng kiến thức. Báo cáo này đề cập tới nhiều loại năng lực khác nhau trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu như năng lực kinh tế, năng lực công nghệ, năng lực kỹ thuật và năng lực về các phương thức; năng lực xã hội; kỹ năng sáng tạo và phát kiến; sự linh hoạt và năng động kết hợp với sự kiên trì, sự tin tưởng và sự chính xác. Trong một báo cáo khác của Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm năng lực (competence), kỹ năng (skills) và kiến thức (knowledge). Báo cáo này đã tổng hợp các định nghĩa chính về kỹ năng trong đó nêu rõ kỹ năng là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó.
Trong khi đó, các tác giả khẳng định rằng việc định nghĩa năng lực có thể phụ thuộc vào từng nền văn hóa và mục đích định nghĩa do vậy có rất nhiều các định nghĩa khác nhau cho thuật ngữ này. Tuy nhiên, các tác giả lại đưa ra khái niệm “năng lực cốt lõi” (key competences) bao gồm một số năng lực và các năng lực này không phụ thuộc vào các tình huống cụ thể, và có thể được ứng dụng trong các tình huống và công việc khác nhau. Các năng lực này bao gồm: những năng lực nền tảng như năng lực đọc hiểu, năng lực làm việc với các con số, năng lực về các 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phương thức như năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng giao tiếp bao gồm kỹ năng viết và diễn giải; năng lực phán quyết như là tư duy phản biện. Cũng theo các tác giả mà báo cáo này dẫn chiếu, để có được kỹ năng, một người phải trải qua một quá trình rèn luyện, đào tạo nhất định.
Mức độ thành thục của kỹ năng phụ thuộc vào thời gian và khối lượng được rèn luyện.