Tổng quan nghiên cứu

Năm 2015 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của giáo dục đại học Việt Nam khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BGDĐT để tổ chức kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia 2 trong 1. Cùng thời điểm đó, Đại học Quốc gia Hà Nội tiên phong triển khai kỳ thi Đánh giá năng lực độc lập với 140 câu hỏi trắc nghiệm thực hiện trong 195 phút trên máy tính. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là liệu các phương thức tuyển sinh này có giá trị dự báo thực chất đối với kết quả học tập chuyên ngành ở bậc đại học hay không.

Mục tiêu nghiên cứu là đo lường mức độ tương quan tuyến tính giữa kết quả bài thi Đánh giá năng lực, điểm thi Trung học phổ thông quốc gia với điểm trung bình tích lũy các học phần chuyên ngành. Đồng thời, luận văn khảo sát toàn diện ý kiến phản hồi của 30 giảng viên và 63 sinh viên về tác động của bài thi đầu vào đối với năng lực học tập đại học. Phạm vi nghiên cứu được xác định chặt chẽ trên khóa sinh viên QH-2015 trong giai đoạn học tập 2015 - 2017 tại các trường đại học thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong khoa học đo lường giáo dục khi cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác với hệ số tương quan Pearson và kiểm định Khi bình phương. Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học vững chắc giúp tối ưu hóa công tác tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo và hạn chế tối đa tỷ lệ sinh viên không theo kịp chương trình đào tạo chuyên ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Thuyết thang bậc nhận thức của Benjamin Bloom (1956) với 6 cấp độ từ thấp đến cao gồm: Biết, Hiểu, Áp dụng, Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá nhằm phân loại mức độ tư duy của sinh viên. Đồng thời, đề tài kết hợp Thuyết tâm lý học hoạt động của Lev Vygotsky để giải thích cơ chế chuyển biến nhận thức thông qua hoạt động học tập có hướng dẫn của giảng viên. Mô hình nghiên cứu phân tích tương quan đa biến được thiết lập giữa hai nhóm biến độc lập là điểm thi Đánh giá năng lực và điểm thi Trung học phổ thông quốc gia với biến phụ thuộc là điểm trung bình học phần chuyên ngành.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong luận văn bao gồm: Đo lường giáo dục, Đánh giá năng lực (Competence Assessment), Hoạt động học tập (Learning Activity), Kết quả học tập (Academic Achievement) và Hệ số tương quan Pearson (r). Năng lực được định nghĩa là sự tích hợp hữu cơ giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, được thể hiện thông qua khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong môi trường học thuật chuyên sâu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên cơ sở xử lý nguồn dữ liệu thứ cấp từ đề tài mã số QG.16.42 cùng dữ liệu khảo sát sơ cấp. Cỡ mẫu nghiên cứu chính thức gồm 741 sinh viên khóa QH-2015 được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản từ 1.546 sinh viên ban đầu. Mẫu bao gồm 302 sinh viên thuộc khối ngành Khoa học Tự nhiên (45 sinh viên Toán - Tin, 60 sinh viên Hóa học, 58 sinh viên Sinh học, 51 sinh viên Địa lí - Môi trường) và 439 sinh viên thuộc khối ngành Khoa học Xã hội (78 sinh viên Du lịch học, 64 sinh viên Đông phương học, 35 sinh viên Lịch sử).

Tác giả sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS để tính toán hệ số tương quan Pearson, kiểm định Khi bình phương và phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha. Lý do lựa chọn hệ số tương quan Pearson là vì phương pháp này cho phép định lượng chính xác mức độ liên kết tuyến tính và chiều hướng tác động giữa điểm tuyển sinh và điểm học phần. Thang đo khảo sát đạt độ tin cậy vượt trội với hệ số Cronbach's Alpha đạt 0,856 đối với khối Khoa học Tự nhiên (20 câu hỏi) và 0,832 đối với khối Khoa học Xã hội (19 câu hỏi). Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu được tiến hành liên tục trong suốt 2 năm học từ 2015 đến 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, đối với các học phần thuộc Khối kiến thức chung (như Triết học Mác - Lênin, Đường lối cách mạng), mức độ tương quan giữa điểm thi đầu vào và điểm trung bình tích lũy là rất yếu (r < 0,30). Cụ thể, ở khối Khoa học Tự nhiên, hệ số tương quan với bài thi Đánh giá năng lực đạt r = 0,252 và với kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia là r = 0,236 (Sig = 0,000, N = 301). Ở khối Khoa học Xã hội, hệ số tương quan lần lượt là r = 0,282 và r = 0,219 (Sig = 0,000, N = 439).

Thứ hai, khi tiến vào Khối kiến thức theo lĩnh vực và cơ sở ngành, mức độ tương quan tăng trưởng rõ rệt lên mức trung bình (0,30 <= r < 0,50). Hệ số tương quan của bài thi Đánh giá năng lực đạt r = 0,360 ở khối Tự nhiên và r = 0,388 ở khối Xã hội, cao hơn khoảng 16% đến 25% so với điểm thi Trung học phổ thông quốc gia (cùng đạt r = 0,310).

Thứ ba, ở Khối kiến thức chuyên ngành, bài thi Đánh giá năng lực thể hiện ưu thế vượt trội với hệ số tương quan đạt từ r = 0,420 đến r = 0,510 tại các ngành Hóa học, Sinh học, Đông phương học và Du lịch học. Mức độ dự báo kết quả chuyên ngành của bài thi Đánh giá năng lực cao hơn từ 18% đến 32% so với điểm thi tốt nghiệp truyền thống.

Thứ tư, khảo sát phản hồi từ 30 giảng viên và 63 sinh viên cho thấy trên 70% ý kiến đồng thuận rằng bài thi Đánh giá năng lực có phổ điểm phân hóa chuẩn, giúp sinh viên phát huy tư duy logic và kỹ năng tự học hiệu quả hơn khi tiếp cận kiến thức chuyên ngành mới.

Thảo luận kết quả

Mối tương quan yếu ở khối kiến thức chung được lý giải là do các học phần đại cương mang nặng tính ghi nhớ lý thuyết, phương pháp giảng dạy còn thụ động và chưa gắn liền với tư duy chuyên ngành. Ngược lại, bài thi Đánh giá năng lực với 140 câu trắc nghiệm bao quát tư duy định lượng, tư duy định tính và khoa học tự nhiên - xã hội đòi hỏi khả năng tư duy bậc cao, giải thích tại sao điểm bài thi này tương quan chặt chẽ với điểm chuyên ngành.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với kết luận của Oliver G. Cataquis (2012) tại Philippines và công trình của Win & Miller (2005) trên 1.803 sinh viên tại Đại học Western Australia, khẳng định điểm thi tuyển sinh chuẩn hóa luôn có mối tương quan thuận mạnh mẽ với thành tích học tập đại học.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ phân tán Scatter Plot kèm đường hồi quy tuyến tính, kết hợp ma trận bảng tương quan Pearson đa biến. Cách trình bày này giúp hiển thị rõ ràng độ dốc tương quan và làm nổi bật sự khác biệt về năng lực học tập giữa 302 sinh viên tự nhiên và 439 sinh viên xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng chuẩn ngân hàng đề thi Đánh giá năng lực bằng cách tăng 30% tỷ lệ các câu hỏi tích hợp đánh giá năng lực tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá theo thang Bloom) trong giai đoạn 2018 - 2020 do Trung tâm Khảo thí Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì thực hiện.

Thứ hai, tối ưu hóa cơ cấu xét tuyển chuyên ngành thông qua việc phân bổ trọng số 60% cho phần thi tư duy chuyên biệt và 40% cho phần thi chung, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sinh viên đạt học lực chuyên ngành loại khá giỏi lên trên 75% trong năm học 2019 - 2020 do Hội đồng Tuyển sinh các trường đại học thành viên triển khai.

Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá theo hướng chuyển đổi tối thiểu 40% thời lượng bài giảng lý thuyết sang hình thức thảo luận nhóm, giải quyết tình huống thực tế và đánh giá quá trình, hoàn thành trước năm 2021 do các khoa chuyên môn thực hiện.

Thứ tư, hiện đại hóa cơ sở vật chất bằng việc nâng cấp 100% trang thiết bị phòng thí nghiệm chuyên ngành tự nhiên và bổ sung nguồn học liệu số cho khối ngành xã hội, hướng tới giảm tỷ lệ sinh viên gặp khó khăn tiếp thu kiến thức xuống dưới 15% trong vòng 24 tháng do Ban Cơ sở vật chất và Thư viện số phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm chuyên gia khảo thí và cán bộ quản lý giáo dục: Tìm thấy cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm vững chắc trên mẫu 741 sinh viên để xây dựng, chuẩn hóa đề thi tuyển sinh đại học theo định hướng đánh giá năng lực người học.

Nhóm giảng viên đại học và nhà nghiên cứu giáo dục: Vận dụng thang đo nhận thức Bloom và phương pháp phân tích tương quan Pearson để cải tiến phương pháp giảng dạy, thiết kế đề thi học phần chuyên ngành bám sát chuẩn đầu ra.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Đo lường và Đánh giá: Tiếp cận mô hình nghiên cứu khoa học chuẩn mực, quy trình chuẩn hóa thang đo Likert với hệ số Cronbach's Alpha trên 0,830 và kỹ thuật xử lý dữ liệu lớn bằng SPSS.

Nhóm sinh viên đại học và học sinh trung học phổ thông: Định hướng phương pháp học tập chủ động ở bậc đại học, thấu hiểu cấu trúc bài thi đánh giá năng lực để chuẩn bị tốt nền tảng tư duy trước khi bước vào các học phần chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc bài thi Đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội được thiết kế như thế nào? Bài thi gồm 140 câu hỏi trắc nghiệm khách quan thực hiện trên máy tính trong 195 phút. Bài thi bao gồm 3 phần: Phần 1 (Tư duy định lượng), Phần 2 (Tư duy định tính) và Phần 3 (Khoa học tự nhiên hoặc Khoa học xã hội), giúp đo lường toàn diện năng lực tư duy tổng hợp của thí sinh.

Tại sao điểm thi đầu vào lại tương quan yếu với điểm học phần khối kiến thức chung? Các học phần kiến thức chung như Triết học hay Đường lối chính trị có hệ số tương quan thấp (r < 0,30) vì nội dung thi cử thường thiên về ghi nhớ kiến thức lý thuyết bề mặt, chưa phản ánh đầy đủ năng lực tư duy logic và kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên.

Bài thi Đánh giá năng lực có dự báo tốt hơn kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia không? Có. Kết quả phân tích trên 741 sinh viên chỉ ra rằng điểm bài thi Đánh giá năng lực có hệ số tương quan với các môn chuyên ngành đạt từ r = 0,420 đến r = 0,510, cao hơn từ 18% đến 32% so với điểm kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia.

Thang đo phiếu khảo sát trong nghiên cứu đạt độ tin cậy khoa học như thế nào? Thang đo khảo sát được kiểm định nghiêm ngặt qua phần mềm SPSS với hệ số Cronbach's Alpha đạt 0,856 trên mẫu 30 sinh viên tự nhiên và 0,832 trên mẫu 33 sinh viên xã hội. Điều này chứng minh các biến quan sát đều đạt độ tin cậy và giá trị nội dung rất cao.

Yếu tố nào tác động mạnh nhất đến kết quả học tập chuyên ngành của sinh viên? Bên cạnh năng lực tư duy đầu vào, phương pháp tự học của sinh viên và phương pháp giảng dạy tích cực của giảng viên là hai yếu tố then chốt, quyết định hơn 60% mức độ thành công và khả năng tiếp thu kiến thức chuyên ngành phức tạp.

Kết luận

  • Bài thi Đánh giá năng lực thể hiện giá trị dự báo kết quả học phần chuyên ngành vượt trội so với điểm thi Trung học phổ thông quốc gia với hệ số tương quan đạt mức r = 0,420 đến r = 0,510.
  • Kết quả học tập các học phần kiến thức chung chỉ đạt mức tương quan yếu (r < 0,30) ở cả hai khối ngành do phương thức đào tạo và đánh giá còn nặng về lý thuyết truyền thống.
  • Nghiên cứu đã xử lý thành công bộ dữ liệu thực chứng quy mô 741 sinh viên và chuẩn hóa thang đo khảo sát với độ tin cậy Cronbach's Alpha trên 0,830.
  • Lộ trình 2018 - 2022 cần tập trung gia tăng 30% câu hỏi tư duy phân tích trong đề thi và chuyển đổi 40% thời lượng giảng dạy sang phương pháp giải quyết vấn đề.
  • Các cơ sở giáo dục đại học cần nhanh chóng mở rộng phương thức tuyển sinh bằng bài thi Đánh giá năng lực để tuyển chọn đúng nguồn nhân lực chất lượng cao.