CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về KCN 1. Định nghĩa KCN Theo Khoản 11, Điều 3 của Luật đầu tư năm 2014: “Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”.
Đặc điểm của KCN: - Về không gian: là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vùng lãnh thổ khác và thường không có cư dân sinh sống. Các KCN đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN. Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật KCN này được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc trong KCN.
- Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong KCN là sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, không có các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này. - Về thành lập: KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt.
Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ. Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng. - Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong KCN, có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất). Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, trong phạm vi KCN có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất).
Hệ thống KCN ở nước ta hiện nay Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển, các KCN ở Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết việc làm cho nhiều lao động và đẩy nhanh công tác xóa đói giảm nghèo tại các địa phương. Theo báo cáo của Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 9 năm 2016, cả nước có 324 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 91,8 nghìn ha [11]. Đối với các KCN, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 61,7 nghìn ha, chiếm khoảng 67% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó, 220 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 59,6 nghìn ha và 104 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 29,7 nghìn ha. Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt 31,8 nghìn ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 50%, riêng các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt 73%.
Trong số 324 KCN được thành lập có 44 KCN đầu tư nước ngoài và 280 KCN đầu tư trong nước [11]. Các KCN được thành lập phù hợp với quy hoạch phát triển các KCN cả nước cũng như quy hoạch sử dụng đất và phát triển công nghiệp của địa phương. Về phân bố KCN, vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 109 KCN (chiếm 34% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 83 KCN (chiếm 26% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 52 KCN (chiếm 16% cả nước) [11]. Các vấn đề môi trường nổi cộm ở KCN Trong những năm qua, các KCN đã có những đóng góp vào sự nghiệp phát 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên, sự phát triển của KCN cũng đã có tác động không nhỏ đến môi trường. Hiện nay, hầu hết các KCN được quy hoạch và hoạt động đều quan tâm rất ít đến môi trường, do vậy đang dần phá huỷ nghiêm trọng môi truờng tại nhiều khu vực. Các vấn đề chính về môi trường có liên quan đến KCN là phá hủy môi trường sống, làm mất đa dạng sinh học, gây ô nhiễm không khí, nước thải, chất thải rắn, tiếng ồn và phóng xạ, chất độc hóa học, ô nhiễm đất, tai nạn công nghiệp, thay đổi khí hậu toàn cầu, v.v… Khi các nhà máy tập trung ở số lượng hàng chục đến hàng trăm các cơ sở nhỏ, vừa và lớn có thể tạo nên ảnh hưởng tích tụ nghiêm trọng từ nhiều nguồn ô nhiễm đến không khí, nước và cả đất. Các vấn đề môi trường nổi cộm ở KCN là ô nhiễm môi trường do nước thải, bụi, khí thải công nghiệp và chất thải rắn: - Ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác.
Theo báo cáo của Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính đến tháng 9 năm 2016, trong số 324 KCN đã được thành lập có 187 KCN đã có hệ thống xử lý nước thải (XLNT) tập trung hoàn chỉnh và đi vào vận hành, chiếm 85% tổng số KCN đang hoạt động, phù hợp với chỉ tiêu được giao (85%) tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016[11]. Từ kết quả thống kê có thể nhận thấy có một số lượng lớn các KCN đã đi vào vận hành nhưng vẫn chưa có hệ thống XLNT tập trung, bên cạnh đó, một số KCN đã có công trình XLNT nhưng chưa vận hành nghiêm túc hoặc đúng kỹ thuật các trạm XLNT. Hầu hết nước thải của các nhà máy, xí nghiệp trong các KCN đều chưa được xử lý đúng mức trước khi thải ra môi trường xung quanh hoặc thải vào mạng lưới thoát nước chung. Thành phần nước thải công nghiệp khi chưa được xử lý có hàm lượng các chất lơ lửng, chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, dầu mỡ và một số kim loại nặng khá cao.
Kết quả là tải lượng ô nhiễm trên hệ thống các nguồn tiếp nhận ngày một gia tăng do khả năng tự làm sạch của nguồn có giới hạn. Do vậy nguồn nước trên các sông rạch xung quanh hoạt 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động của những KCN có dấu hiệu ô nhiễm và một vài kênh rạch đã bị ô nhiễm nặng. Một điều dễ dàng nhận thấy là các KCN tập trung đa số đều nằm gần các tuyến sông rạch và tất nhiên hệ thống sông rạch đó chính là nguồn tiếp nhận nước thải trực tiếp. Và khi các KCN hình thành thì các chất thải của các nhà máy, xí nghiệp trực tiếp đổ ra sông rạch, làm cho nguồn nước sông rạch ô nhiễm trầm trọng.
Ô nhiễm môi trường nước làm gia tăng gánh nặng bệnh tật gia tăng và tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN và cộng đồng dân cư sống gần KCN. - Ô nhiễm môi trường do bụi, khí thải công nghiệp: Khí thải phát sinh từ từng nhà máy trong các KCN, CCN không thể được thu gom, xử lý tập trung nên hiện nay các doanh nghiệp tự xử lý khí thải. Hệ thống xử lý khí thải tại các cơ sở sản xuất trong KCN còn hạn chế, sơ sài, có nơi chỉ mang tính chất đối phó gây ra ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động và cộng đồng dân cư xung quanh. Ô nhiễm môi trường, không khí, thường chủ yếu tập trung tại các KCN cũ, do các KCN này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường.
Ô nhiễm không khí tại các KCN chủ yếu là bụi, một số KCN có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn. Trong khi đó tại các KCN mới, do được đầu tư công nghệ hiện đại, hệ thống xử lý khí thải đồng bộ trước khi xả thải ra môi trường, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường không khí tại các KCN này đã được cải thiện một cách rõ rệt. - Ô nhiễm do chất thải rắn, chất thải nguy hại: hoạt động sản xuất tại các KCN đã phát sinh một lượng không nhỏ chất thải rắn (CTR) và chất thải nguy hại, là nguồn gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Hầu hết các doanh nghiệp trong các KCN hiện nay đều tự quản lý và trực tiếp ký hợp đồng để các đơn vị chức năng ở địa phương vận chuyển và xử lý chất thải rắn.
Tuy nhiên, thực tế trong quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại, một số đơn vị xử lý không đạt tiêu chuẩn, thậm chí không xử lý, gây ra những hậu quả khôn lường đối với môi trường và đời sống dân sinh. Công tác quản lý môi trường KCN Bên cạnh những lợi ích to lớn mà phát triển công nghiệp mang lại cho đất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước thì vấn đề về bảo vệ môi trường tại các KCN luôn được Chính phủ quan tâm. Đã có rất nhiều các chính sách, các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường được đưa ra để quản lý nhằm bảo vệ môi trường tại KCN. Hiện nay đã có rất nhiều các KCN đã đưa các chính sách văn bản pháp luật về BVMT áp dụng trong công tác QLMT tại KCN và đem lại các hiệu quả rõ rệt.