Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi thiên tai khí tượng thủy văn tại khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu thống kê giai đoạn 2001 - 2010, có khoảng 51 cơn bão và áp thấp nhiệt đới tác động trực tiếp đến đất liền và vùng biển nước ta. Các đợt xoáy thuận nhiệt đới này đóng góp từ 35% đến 45% tổng lượng mưa năm tại dải ven biển miền Trung, trong đó khoảng 20% các cơn bão mang lại tổng lượng mưa vượt mức 300 mm và 45% dao động trong khoảng 200 - 300 mm. Mưa lớn cục bộ kết hợp địa hình hiểm trở thường gây ra lũ quét, sạt lở đất và ngập lụt diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng và cơ sở hạ tầng kinh tế.

Trước yêu cầu cấp thiết về hiện đại hóa công tác cảnh báo thiên tai, việc chuyển giao từ phương pháp dự báo synop truyền thống sang ứng dụng các mô hình số trị toàn cầu đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, việc khai thác sản phẩm dự báo mưa từ mô hình toàn cầu GSM (Global Spectral Model) của Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) trong nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia vẫn gặp nhiều hạn chế do sai số định lượng còn lớn. Mô hình thường gặp khó khăn khi mô phỏng các tương tác phi tuyến phức tạp giữa hoàn lưu bão với không khí lạnh, gió mùa mùa hè và địa hình chắn gió dạng cánh cung hay dãy Trường Sơn.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng sai số dự báo mưa 72 giờ của mô hình GSM đối với 11 trường hợp xoáy thuận nhiệt đới điển hình giai đoạn 2001 - 2010. Công trình tập trung làm rõ các quy luật phân bố trường mưa khi bão kết hợp với gió mùa đông bắc, gió mùa tây nam, đới gió tây trên cao và hiệu ứng nâng địa hình. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng giúp các dự báo viên hiệu chỉnh sai số trường mưa mô hình, góp phần nâng cao chất lượng bản tin dự báo thiên tai trước 24 đến 72 giờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên hệ thống lý thuyết động lực học khí quyển và mô hình hóa số trị dự báo thời tiết. Mô hình GSM là mô hình phổ toàn cầu giải hệ phương trình nguyên thủy thủy tĩnh để mô tả chuyển động và trạng thái nhiệt ẩm của khí quyển. Mô hình vận hành trên hệ tọa độ đứng sigma-áp suất lai với số mực thẳng đứng được nâng cấp từ 16 lên 40 mực và miền tính mở rộng lên đến 0,1 hPa. Về phương diện số học, mô hình sử dụng sơ đồ bình lưu bán Lagrangian và sơ đồ tham số hóa đối lưu mây ẩm Arakawa-Schubert cải tiến nhằm mô phỏng chu trình nước và đối lưu sâu trong hoàn lưu nhiệt đới.

Bên cạnh lý thuyết mô hình số trị, nghiên cứu áp dụng lý thuyết tương tác hoàn lưu synop nhiệt đới và gió mùa. Ba khái niệm then chốt được sử dụng để phân tích cơ chế hình thành mưa bao gồm: hiện tượng xâm nhập lạnh (Cold Surge) từ áp cao lục địa châu Á; dòng dẫn đường quy mô lớn (Steering Flow) gắn liền với áp cao cận nhiệt đới Tây Bắc Thái Bình Dương và đới gió tây trên cao; cùng với hiệu ứng thăng cưỡng bức địa hình (Orographic Uplift) khi luồng ẩm nhiệt đới thổi vuông góc với sườn núi đón gió.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào bao gồm sản phẩm dự báo mưa tích lũy 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ từ mô hình GSM độ phân giải 1,0 độ kinh vĩ cùng chuỗi số liệu quan trắc thực tế tại mạng lưới hơn 100 trạm khí tượng bề mặt trên toàn quốc. Số liệu quan trắc mưa được thu thập đồng bộ theo 4 mốc phát báo quốc tế chính là 00z, 06z, 12z và 18z, đồng thời tăng cường tần suất đo 30 phút đến 1 giờ khi bão đổ bộ.

Phương pháp chọn mẫu tập trung vào 11 đợt thiên tai tiêu biểu (gồm 10 cơn bão và 1 áp thấp nhiệt đới) được phân loại kỹ lưỡng theo các dạng tương tác synop đặc trưng: bão tương tác gió mùa đông bắc (bão Muifa 2004, Marinae 2009), tương tác gió mùa tây nam (bão Chanthu 2004, bão số 2 năm 2007), tương tác đới gió tây trên cao (áp thấp nhiệt đới tháng 10/2009) và tương tác địa hình khu vực Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên (bão Durian 2001, Lekima 2007, Kammuri 2008, Nonl 2008, Soudelor 2009, Ketsana 2009).

Để so sánh trường mưa mô hình với điểm trạm, phương pháp nội suy trọng số nghịch đảo khoảng cách bậc hai từ 4 điểm lưới lân cận về tọa độ trạm được áp dụng. Việc đánh giá sai số định lượng thực hiện qua hai chỉ số thống kê toán học: sai số trung bình (ME - Mean Error) xác định độ lệch hệ thống vượt chuẩn hay dưới chuẩn, và sai số tuyệt đối trung bình (MAE - Mean Absolute Error) đo lường độ chênh lệch biên độ mưa thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích đối chiếu cho thấy mô hình GSM có xu hướng dự báo lượng mưa tích lũy 72 giờ thấp hơn đáng kể so với thực tế quan trắc trong hầu hết các hình thế xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam:

Thứ nhất, đối với hình thế xoáy thuận nhiệt đới kết hợp gió mùa đông bắc, tâm mưa lớn luôn bị lệch mạnh về phía bắc và tây bắc tâm bão. Điển hình trong bão Marinae (2009) và Muifa (2004), lượng mưa quan trắc thực tế tại các trạm ven biển miền Trung đạt trên 200 mm/12h, trong khi mô hình GSM chỉ dự báo trong khoảng 50 - 100 mm/12h. Sai số tuyệt đối trung bình ghi nhận ở mức rất cao, đạt khoảng 120,7 mm (MAE của bão Muifa là 150,1 mm và bão Marinae là 91,2 mm).

Thứ hai, khi bão tương tác với gió mùa tây nam hoạt động mạnh, trường ẩm dịch chuyển chủ yếu về góc tây nam và phía nam tâm bão. Đối với bão Chanthu (2004) và bão số 2 (2007), sai số tuyệt đối trung bình MAE đạt mức 100,4 mm. Mô hình bắt tương đối tốt tâm mưa phía bắc nhưng bỏ sót diện mưa đối lưu cường độ lớn ở phía nam, khiến giá trị dự báo thấp hơn thực tế từ 30% đến 55%.

Thứ ba, trường hợp xoáy thuận nhiệt đới chịu tác động của đới gió tây trên cao (điển hình đợt áp thấp nhiệt đới tháng 10/2009), phần đối lưu phía bắc bị phá vỡ do hiện tượng phân kỳ vận tốc trên cao, tạo ra vùng trời ít mưa ở phía đông bắc. Toàn bộ lượng mưa tập trung ở rìa tây và tây nam với chỉ số sai số MAE ghi nhận là 61,6 mm.

Thứ tư, dưới tác động của địa hình vùng núi cánh cung Đông Bắc và sườn đông Trường Sơn, lượng mưa thực tế bị khuếch đại mạnh mẽ do thăng cưỡng bức. Trong bão Soudelor (2009), mô hình chỉ dự báo lượng mưa Bắc Bộ từ 5 đến 10 mm/12h nhưng thực tế trạm Nho Quan và khu vực lân cận quan trắc được từ 30 đến 50 mm/12h, tạo mức sai số MAE khoảng 108,3 mm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sai số dưới chuẩn của mô hình GSM bắt nguồn từ độ phân giải ngang lưới phổ 1,0 độ (khoảng hơn 100 km) khi cung cấp cho các trạm nghiệp vụ. Độ phân giải này chưa đủ mịn để nắm bắt các quá trình vi vật lý mây đối lưu quy mô nhỏ và sự biến đổi đột ngột của địa hình đồi núi dốc đứng tại dải Trường Sơn. Sơ đồ Arakawa-Schubert trong mô hình giải phóng ẩn nhiệt chưa đủ mạnh để kích hoạt lượng mưa cục bộ cực đoan trên 300 mm.

Dữ liệu phân tích có thể được biểu diễn trực quan thông qua bản đồ phân bố sai số không gian và các biểu đồ thanh so sánh giữa mưa dự báo và mưa quan trắc tại từng phân vùng trạm. Khi đặt cạnh các nghiên cứu sử dụng mô hình động lực khu vực có độ phân giải cao hơn như WRF (10 km) hay RAMS (được thử nghiệm trên lưu vực sông Trà Khúc), mô hình toàn cầu GSM thể hiện tính ổn định cao về mặt quy mô lớn nhưng thua kém về khả năng dự báo định lượng mưa cực trị tại các điểm trạm đo mưa vùng núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao độ chính xác trong công tác dự báo định lượng mưa phục vụ phòng chống thiên tai, các giải pháp cụ thể được kiến nghị thực hiện:

  • Ứng dụng quy trình hiệu chỉnh thống kê sai số hệ thống (Model Output Statistics - MOS) và phương pháp mạng nơ-ron nhân tạo cho sản phẩm mưa GSM tại từng vùng khí hậu, đặt mục tiêu giảm sai số MAE từ 15% đến 25% trong giai đoạn 12 - 24 tháng tới do Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia chủ trì.
  • Nâng cấp việc tiếp nhận sản phẩm mô hình GSM có độ phân giải cao 0,1875 độ kinh vĩ trực tiếp từ Cơ quan Khí tượng Nhật Bản thông qua đường truyền viễn thông chuyên dụng tốc độ cao trong vòng 6 tháng.
  • Thiết lập hệ thống đồng hóa dữ liệu địa phương quy mô khu vực (bao gồm dữ liệu radar thời tiết băng C/S và mạng lưới đo mưa tự động bề mặt) tích hợp vào các mô hình số trị phân giải siêu cao (WRF 3 km) để tinh chỉnh trường ẩm trước khi bão đổ bộ 48 giờ.
  • Xây dựng cẩm nang nghiệp vụ synop chuẩn hóa cho dự báo viên: khi xuất hiện hình thế bão kết hợp không khí lạnh hoặc đới gió mùa tây nam, dự báo viên cần chủ động cộng thêm hệ số hiệu chỉnh địa hình từ 1,5 đến 2,0 lần so với giá trị mưa nguyên bản của mô hình GSM đối với khu vực sườn đón gió.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Dự báo viên khí tượng tại các Đài Khí tượng Thủy văn khu vực: Nắm vững quy luật lệch tâm mưa và độ lệch chuẩn của sản phẩm GSM để hiệu chỉnh bản tin cảnh báo lũ quét, sạt lở đất.
  • Ban chỉ huy Phòng thủ dân sự và Phòng chống thiên tai các cấp: Sử dụng các số liệu đánh giá về diện mưa bão để xây dựng kịch bản sơ tán dân cư vùng trũng thấp trước 24 đến 48 giờ.
  • Nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khí tượng học: Khai thác phương pháp luận đánh giá sai số ME, MAE và cơ sở động lực học tương tác khí quyển quy mô vừa làm tiền đề cho các đề tài nâng cao.
  • Giảng viên và sinh viên các trường đại học chuyên ngành Khoa học Trái đất: Làm tài liệu tham khảo giảng dạy trong các học phần Mô hình hóa khí quyển, Dự báo thời tiết số trị và Khí tượng nhiệt đới.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình GSM là gì và vai trò của mô hình này trong dự báo thời tiết tại Việt Nam? Mô hình GSM là mô hình phổ toàn cầu do Cơ quan Khí tượng Nhật Bản phát triển, giải các phương trình thủy nhiệt động lực học khí quyển. Tại Việt Nam, GSM là công cụ dự báo số trị chủ lực được khai thác từ năm 2006, cung cấp các trường khí áp, gió, nhiệt và mưa phục vụ dự báo hạn ngắn đến hạn vừa từ 3 đến 7 ngày.

Tại sao mô hình GSM thường dự báo lượng mưa bão thấp hơn so với thực tế đo được? Nguyên nhân chủ yếu do độ phân giải ngang của sản phẩm mô hình chuyển giao còn tương đối thô (1,0 độ), chưa mô phỏng chi tiết ảnh hưởng của địa hình đồi núi dốc và các đám mây đối lưu quy mô nhỏ. Do đó, mô hình có xu hướng san phẳng các tâm mưa cực đoan, dẫn đến giá trị tính toán dưới chuẩn so với trạm đo.

Hình thế kết hợp nào tạo ra lượng mưa lớn nhất khi xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ? Sự kết hợp giữa xoáy thuận nhiệt đới với không khí lạnh tăng cường (gió mùa đông bắc) tạo ra lượng mưa lớn và nguy hiểm nhất. Hình thế này gây hội tụ gió mạnh ở rìa phía bắc bão, mở rộng diện mưa và kéo dài thời gian mưa từ 3 đến 5 ngày tại khu vực miền Trung với lượng mưa có thể vượt 400 mm.

Chỉ số MAE và ME có ý nghĩa như thế nào trong đánh giá mô hình thời tiết? Chỉ số sai số trung bình ME cho biết xu hướng lệch hệ thống của mô hình (dự báo cao hơn hay thấp hơn quan trắc thực tế). Chỉ số sai số tuyệt đối trung bình MAE phản ánh độ lớn trung bình của sai số dự báo không phụ thuộc vào dấu, là thước đo trực tiếp về độ tin cậy định lượng của mô hình.

Dự báo viên cần làm gì để khắc phục sai số dự báo mưa từ mô hình GSM? Dự báo viên cần kết hợp phân tích synop, sử dụng mô hình tổ hợp, áp dụng các sơ đồ hiệu chỉnh sai số thống kê tại địa phương và chủ động điều chỉnh tăng lượng mưa dự báo tại các khu vực sườn đón gió hoặc nơi có hội tụ hoàn lưu mạnh.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 11 trường hợp bão và áp thấp nhiệt đới điển hình giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đánh giá định lượng năng lực dự báo mưa của mô hình GSM.
  • Xác định rõ xu hướng dự báo dưới chuẩn của mô hình GSM với sai số tuyệt đối trung bình MAE dao động từ 61,6 mm đến 120,7 mm tùy theo từng hình thế synop tương tác.
  • Làm sáng tỏ quy luật dịch chuyển trường mưa: lệch về bắc khi có gió mùa đông bắc, lệch về nam/tây nam khi có gió mùa tây nam và bị triệt tiêu đối lưu phía bắc khi tương tác đới gió tây trên cao.
  • Khẳng định vai trò quyết định của hiệu ứng địa hình cục bộ trong việc khuếch đại cường độ mưa bão mà các mô hình toàn cầu lưới thô chưa phản ánh đầy đủ.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc tích hợp trí tuệ nhân tạo và đồng hóa dữ liệu viễn thám độ phân giải cao nhằm hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm thiên tai tại Việt Nam. Quý độc giả và các đơn vị chuyên môn có thể ứng dụng ngay các phát hiện này để nâng cao chất lượng dự báo nghiệp vụ.