Tổng quan nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò then chốt trong nền nông nghiệp, đóng góp trên 60% tổng sản lượng thịt tiêu thụ trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở sản xuất giống trong nước đối mặt với sức ép lớn về năng suất sinh sản và chất lượng thịt nạc. Năm 1977, nguồn gen lợn cấp cụ kỵ gồm 480 cá thể thuộc 5 dòng thuần và tổng hợp từ Công ty Giống lợn PIC Anh Quốc đã được nhập khẩu và nuôi dưỡng tại Trại lợn giống Hạt nhân Tam Điệp. Đến năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương tiếp nhận quản lý nguồn gen quý này nhưng chưa có các đánh giá toàn diện về giá trị giống và xu hướng di truyền để phục vụ công tác chọn tạo hiệu quả.
Đề tài được triển khai nhằm giải quyết mục tiêu trọng tâm: chọn tạo thành công dòng nái L71 có năng suất sinh sản cao đạt trên 10,5 con sơ sinh sống/lứa và dòng nái L72 có độ dày mỡ lưng thấp dưới 15 mm từ các nguồn gen PIC hiện có tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện tại Trại lợn giống Hạt nhân Tam Điệp (Ninh Bình) và Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2011. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp nâng cao chỉ tiêu lợn con cai sữa đạt trên 22 con/nái/năm, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn từ 0,15 đến 0,25 kg thức ăn trên mỗi kg tăng khối lượng của đàn thương phẩm nuôi thịt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết di truyền tính trạng số lượng trong chăn nuôi của các tác giả Nilsson-Ehle và Hazel, trong đó giá trị kiểu hình (P) được xác định bởi tổng hòa của giá trị kiểu gen (G) và sai lệch môi trường (E) theo công thức P = G + E. Kiểu gen tiếp tục được cấu thành từ giá trị cộng gộp (A - Breeding Value), sai lệch trội (D) và sai lệch tương tác át gen (I). Trong đó, giá trị cộng gộp A là thành phần di truyền cố định quyết định trực tiếp đến giá trị giống cá thể và được duy trì qua các thế hệ chọn lọc.
Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên lý thuyết ưu thế lai (Heterosis) với giả thuyết siêu trội của Shull và thuyết trội truyền thống nhằm khai thác sức sống vượt trội của con lai F1 so với trung bình bố mẹ. Các khái niệm cốt lõi được vận dụng bao gồm: sai lệch môi trường chung (Eg), sai lệch môi trường riêng (Es), mức độ biểu hiện ưu thế lai h(%) và hệ số tương quan di truyền giữa các tính trạng kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên cỡ mẫu gồm 180 cá thể lợn nái sinh sản và hơn 1.200 lợn con theo dõi qua 3 thế hệ kế tiếp. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn lọc cá thể dựa trên nguồn gốc gia đình từ 5 dòng cụ kỵ ban đầu: L11 (Yorkshire), VCN02 (Landrace), L64 (Pietrain), L19 (Duroc trắng) và VCN05 (dòng tổng hợp mang máu lợn Meishan).
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê sinh vật học ANOVA và mô hình GLM đa biến nhằm bóc tách chính xác các tác động của môi trường nuôi dưỡng, từ đó ước tính đúng giá trị giống thực sự của từng cá thể. Chỉ tiêu độ dày mỡ lưng được đo bằng máy siêu âm chuyên dụng tại điểm P2 (vị trí xương sườn số 10 - 11, cách đường giữa sống lưng 6,5 cm) theo đúng Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN - 1280 - 81. Toàn bộ chuỗi theo dõi số liệu kéo dài liên tục từ năm 2001 đến tháng 10 năm 2011 tại Ninh Bình, Hà Nội và Hải Dương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng trong quá trình chọn tạo hai dòng nái:
Thứ nhất, dòng nái L71 thể hiện năng suất sinh sản vượt trội với số con sơ sinh sống bình quân đạt từ 10,85 đến 11,20 con/lứa, tăng 6,7% so với thế hệ xuất phát ban đầu. Số con cai sữa bình quân đạt 10,15 con/ổ, khối lượng cai sữa toàn ổ ở 21 ngày tuổi đạt 62,50 đến 65,80 kg.
Thứ hai, dòng nái L72 kiểm soát xuất sắc tính trạng tích lũy mỡ với độ dày mỡ lưng trung bình giảm xuống mức 13,80 đến 14,45 mm, giảm 12,5% so với mức 16,50 mm của đàn giống gốc, đáp ứng tối ưu tiêu chuẩn dòng nái nạc cao cấp.
Thứ ba, sức sản xuất thịt của đời con từ cả hai dòng đều duy trì tốc độ sinh trưởng ấn tượng, đạt tăng khối lượng từ 710 đến 745 g/con/ngày trong giai đoạn nuôi thịt. Mức tiêu tốn thức ăn giảm xuống còn 2,65 đến 2,78 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, giúp tiết kiệm khoảng 8,5% chi phí cám chăn nuôi.
Thứ tư, tương quan di truyền giữa độ dày mỡ lưng và số con sơ sinh sống của dòng L72 giữ mức tương quan âm nhẹ ở mức r = -0,12 đến -0,18, chứng minh việc chọn lọc giảm mỡ lưng không làm suy giảm nghiêm trọng năng suất đẻ con nếu áp dụng đúng chỉ số chọn phối.
Thảo luận kết quả
Khả năng đẻ nhiều của dòng L71 bắt nguồn từ việc thừa hưởng nguồn gen tổng hợp có máu Meishan (VCN05) vốn nổi tiếng về tính thành thục sớm và số trứng rụng cao, kết hợp với phẩm chất ngoại hình của dòng Landrace (VCN02). Đối với dòng L72, việc tích hợp nguồn gen Landrace và Pietrain (L64) giúp cố định các alen quy định tỷ lệ nạc cao và cơ bắp phát triển.
So với các nghiên cứu trong nước cùng giai đoạn vốn chỉ đạt năng suất bình quân 9,20 đến 9,80 con sơ sinh sống/lứa, kết quả của dòng L71 cao hơn từ 10,7% đến 14,3%, tương đương với các dòng nái thương phẩm tiêu chuẩn quốc tế của tập đoàn PIC.
Các phát hiện này được trình bày trực quan và sáng tỏ thông qua biểu đồ cột so sánh tiến bộ di truyền qua 3 thế hệ và bảng ma trận tương quan giữa độ dày mỡ lưng với các chỉ tiêu sinh sản, giúp người đọc dễ dàng đối chiếu sự biến thiên của từng tính trạng theo thời gian chọn lọc.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, Viện Chăn nuôi và Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương cần tiếp tục ổn định di truyền cho hai dòng L71 và L72 bằng phương pháp chọn lọc BLUP, hướng tới mục tiêu đạt 24 con cai sữa/nái/năm và độ dày mỡ lưng dưới 13,50 mm trong giai đoạn 2012 - 2015.
Thứ hai, các công ty sản xuất giống gia súc nên ứng dụng công thức lai luân chuyển giữa dòng nái L71 (dòng mẹ mắn đẻ) và đực giống L72 hoặc đực cuối Pietrain L64, Duroc L19 để tạo con thương phẩm nuôi thịt đạt tỷ lệ nạc trên 58% trong khung thời gian 12 đến 18 tháng tới.
Thứ ba, các chủ trang trại chăn nuôi công nghiệp cần cải tiến quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, kiểm soát nhiệt độ chuồng nuôi từ 24 đến 28 độ C và bổ sung hàm lượng lysine đạt 1,15% đến 1,20% trong khẩu phần nái nuôi con, thực hiện định kỳ kiểm tra dinh dưỡng 6 tháng một lần.
Thứ tư, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Sở Nông nghiệp các tỉnh cần xây dựng các mô hình chuyển giao 500 đến 1.000 lợn nái bố mẹ thế hệ mới cho các hợp tác xã chăn nuôi trọng điểm tại vùng đồng bằng sông Hồng trong thời hạn 24 tháng.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng đa dạng cho 4 nhóm đối tượng:
Cán bộ nghiên cứu và chọn giống vật nuôi: Tiếp cận phương pháp luận chuẩn xác trong việc khai thác nguồn gen nhập nội, phân tích giá trị kiểu gen và kiểm soát tương quan di truyền âm giữa các tính trạng năng suất.
Chủ trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi lợn quy mô lớn: Sử dụng các công thức lai và chỉ số năng suất thực tế để thiết lập đàn giống hạt nhân và đàn bố mẹ, giúp tăng lợi nhuận kinh tế từ 10% đến 15% trên mỗi lứa đẻ.
Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chất lượng cao về di truyền số lượng, các công thức tính ưu thế lai và kỹ thuật đo siêu âm mỡ lưng tại Việt Nam.
Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ khuyến nông: Tham khảo số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch chiến lược bảo tồn, lưu giữ và phát triển giống lợn quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành chăn nuôi nội địa.
Câu hỏi thường gặp
Dòng nái L71 có đặc điểm sinh sản nào vượt trội so với các giống lợn ngoại thông thường? Dòng nái L71 đạt số con sơ sinh sống bình quân trên 10,85 con/lứa và số con cai sữa đạt 10,15 con/ổ, cao hơn 1,2 đến 1,5 con/lứa so với đàn nái ngoại thuần thông thường tại Việt Nam nhờ hấp thu hiệu quả nguồn gen mắn đẻ Meishan.
Làm thế nào để dòng nái L72 duy trì độ dày mỡ lưng dưới 15 mm? Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể nghiêm ngặt kết hợp đo siêu âm mỡ lưng tại điểm P2 qua 3 thế hệ liên tiếp, đào thải các cá thể có mỡ lưng trên 16 mm, giúp đưa độ dày mỡ lưng trung bình về mức 13,80 mm.
Nguồn gen PIC nhập khẩu năm 1977 có ưu thế gì trong đề tài này? Nguồn gen PIC gồm 480 cá thể cấp cụ kỵ mang nền tảng di truyền cao sản thuần nhất về năng suất sinh sản và tỷ lệ nạc, là nguyên liệu gốc lý tưởng để chọn tạo các dòng lợn thích nghi hoàn toàn với khí hậu nhiệt đới Việt Nam.
Việc chọn lọc giảm mỡ lưng có làm giảm số lượng con đẻ ra không? Hệ số tương quan di truyền ghi nhận ở mức âm nhẹ từ r = -0,12 đến -0,18. Do đó, việc ứng dụng chỉ số chọn lọc kết hợp đã giúp kiểm soát hài hòa cả hai tính trạng, duy trì số con sơ sinh sống trên 10 con mà vẫn giảm được độ dày mỡ lưng.
Người chăn nuôi có thể ứng dụng hai dòng lợn này như thế nào để tối ưu chi phí? Trang trại nên sử dụng nái L71 làm dòng mẹ để tối ưu số lợn con cai sữa, phối với đực L72 hoặc Duroc thuần để tạo đàn lợn thịt thương phẩm đạt tăng trọng trên 720 g/ngày và tiêu tốn thức ăn dưới 2,75 kg cám/kg tăng khối lượng.
Kết luận
- Đề tài đã tạo thành công dòng nái L71 đạt năng suất sinh sản trên 10,85 con sơ sinh sống/lứa và số con cai sữa đạt 10,15 con/ổ.
- Chọn tạo hoàn chỉnh dòng nái L72 có độ dày mỡ lưng thấp đạt 13,80 mm, đáp ứng hoàn hảo tiêu chuẩn thịt nạc chất lượng cao.
- Đàn lợn thương phẩm tạo ra từ hai dòng có tốc độ tăng trọng đạt 710 đến 745 g/ngày và hệ số tiêu tốn thức ăn tối ưu ở mức 2,65 đến 2,78 kg/kg tăng trọng.
- Làm sáng tỏ cơ chế di truyền số lượng và ưu thế lai của các nguồn gen PIC nhập nội nuôi thích nghi tại điều kiện Việt Nam.
- Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy để các trung tâm giống phát triển mô hình tháp giống hạt nhân bền vững trong nước.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa quy trình chọn tạo giống theo tiêu chí đa tính trạng, vừa nâng cao sản lượng vừa tối ưu chất lượng thịt. Trong giai đoạn 2012 - 2016, các đơn vị cần nhân rộng đàn giống bố mẹ ra thực địa sản xuất. Hãy liên hệ các trung tâm giống gia súc uy tín để nhận tài liệu chuyển giao và ứng dụng ngay nguồn gen tiến bộ này vào mô hình chăn nuôi của bạn.