Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về da Da là hàng rào bảo vệ cơ thể, giúp co thé 6n định thân nhiệt, chống mất nước, bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân độc hại của môi trường như vi khuẩn, bụi bẩn hay ánh nắng v. Da còn là nơi đón nhận xúc giác của cơ thể giúp con người biết đau, nóng, lạnh và khoái cảm. Diện tích da trên cơ thé người lớn khoảng 2mˆ và trọng lượng da chiếm khoảng 15 — 20% trọng lượng toàn cơ thể.
Da có 3 lớp, lớp biêu bì, lớp hạ bi và lớp mô dưới da [2],[8],[10]. Đại cương về loét ép 1. Định nghĩa Loét ép được định nghĩa là một tôn thương cục bộ đối với da và/ hoặc các mô đưới da thường là do các áp lực của cơ - xương, do áp lực hoặc áp lực kết hợp với lực trượt và / hoặc ma sắt [52]. Phân độ loét ép Theo Hội đồng tư vấn loét ép quốc gia Mỹ/ Hội đồng tư vấn loét ép Châu Âu - NPUAP/EPUAP (2007) loét ép được phân thành 4 độ như sau [Š l]: Độ I: Vùng da bị tỳ đè thay đổi màu sắc, thường màu hồng hoặc sậm (dấu hiệu báo trước vùng da bị loét ép).
Độ II: Tôn thương không hoàn toàn chiều dày của lớp da bao gồm lớp thượng bì và lớp đáy (loét nông nhìn như vết trầy hay phông rộp). Độ III: Tôn thương hoàn toàn chiều dày của lớp da, tổ chức đưới da đã bị ton thương nhưng mới chỉ khu trú ngoài lớp cân. Độ IV: Hoại tử toàn bộ lớp da có khi lan rộng tới cả vùng cơ, xương, khớp. đôi khi tạo nên nhiều ngóc nghách.
16 = Loét ép độ 2 Loét ép độ 3 Loét ép độ 4 Hình 1. Phần độ loét ép (Nguồn NPUAP/EPUAP - 2007 [51]) 1. Các yếu tổ nguy cơ gây loét ép Theo hướng dẫn dự phòng và quản lý loét ép của Hiệp hội quản lý vết thương Úc - AWMA (2012), các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển loét ép bao gồm các yếu tô làm tăng thời gian, mức độ áp lực lên da, mô đưới đa và các yếu tổ làm giảm sức chịu đựng của mô [20]. Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển loét ép Ap lực Sức bên của mô Yêu tô bên ngoài Yêu tô bên trong 17 Hình 1.
Các yếu tố nguy cơ phát triển loét ép (Nguồn AWMA - 2012 [20]) 1. Các yếu to làm tăng áp lực Thiếu vận động/ hoạt động: Bắt cứ ai kế cả những người bình thường đều có thé bị loét ép nếu họ giữ nguyên cơ thể ở một tư thế trong một thời gian đủ lâu gây ra áp lực nặng lên một phần cơ thể. Những người phải nằm trên giường hay ngồi xe lăn dễ bị mắc loét ép do họ hặp phải khó khăn khi tự mình thay đổi tư thế hoặc không tự nâng người do sức nặng của cơ thể. Tổ chức phần mềm bị ép giữa các khoang có cấu trúc cứng, bất động trong một thời gian dài.
Khả năng vận động hạn chế kết hợp với khả năng cảm giác bị suy gảm thì nguy cơ loét ép của NB càng lớn do NB không thể cảm nhận được được khi nào cần nâng người, thay đổi tư thế để làm giảm áp lực. Khi đó lưu lượng máu đến những vùng bị tì đè sẽ giảm.Việc không sử đụng các cơ xung quanh khu vực xương sát đa của cơ thể (vùng châm, gai hông, khuỷu tay, cùng cụt, háng, ụ ngồi) dẫn đến tình trạng teo cơ, làm tăng nguy cơ bong, tróc da [46]. Một nghiên cứu tổng quan hệ thống được thực hiện bởi Coleman S và cộng sự (2013) tại Vương quốc Anh cho thấy sự giảm hoạt động, vận động và di chuyển là yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ phát triển loét ép. Tình 18 trạng tê, liệt liên quan đến chắn thương hay bệnh lý gây ảnh hưởng đến khả năng sinh hóa của da cũng làm tăng nguy cơ phát triển loét ép [27].
Các trường hợp suy giảm nhận thức do các vấn đề tâm thần kinh như ngủ nhiều, hôn mê, rỗi loạn tri giác hoặc một số bệnh lý gây rỗi loạn thần kinh giao cam, mất chỉ phối thần kinh, mất cảm giác nhận biết tê, mỏi do nằm lâu cũng làm tăng áp lực lên da và các mô dưới da của người bệnh [27],|46]. Các yếu tổ làm giảm sức bên của mô e Các yếu tố bên ngoài Theo hướng dẫn dự phòng và quản lý loét ép của AWMA (2012), lực trượt, ma sát và độ âm ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng áp lực của da và các mô dưới da [20]. Lực trượt là lực cơ học được tạo ra từ các bề mặt cơ thể song song với mặt giường, nệm, xe lăn. Lực trượt làm cho cơ thê trượt NB dé chống lại sự ma sát giữa da và bề mặt tiếp xúc (giường, đệm, ghế, xe lăn).
Các lớp ngoài của da (lớp biểu bì đến lớp hạ bì) vẫn không di chuyền trong khi các lớp cân cơ sâu đi chuyên cùng với bộ xương, tạo ra sự méo mó, biến dạng trong các mạch máu giữa lớp hạ bì và lớp mô sâu. Điều này dẫn đến huyết khối và tắc nghẽn mao mạch. Ma sát là một lực cơ học xảy ra khi bề mặt cơ thể và bề mặt tiếp xuc (giường, đệm, ghế, xe lăn) đi chuyển qua nhau, tạo ra sự đề kháng giữa da và bề mặt tiếp xúc, điều nãy dẫn đến xuất hiện lực trượt. Độ âm của da tăng lên làm thay đổi khả năng phục hồi của lớp biểu bì của đa đối với tác động của các yếu tô từ bên ngoài bởi nó làm cho da mềm và kiệt quệ, đặc biệt là khi đa tiếp xúc với độ âm trong thời gian đài.
Độ âm có thể xảy ra do NB không kiểm soát được đại, tiểu tiện, địch tiết từ vết thương và mô hôi. Một số trường hợp tăng độ am của da, đặc biệt là không kiểm soát được phân, nước tiểu tạo thêm nguy cơ đo đa phơi nhiễm với vi khuẩn và enzyme làm tăng độ pH của đa. Độ âm tăng cao là yếu tố nguy cơ làm tăng phát triển loét ép [27]. e_ Các yếu tố bên trong [20] 19 Các yếu tố bên trong cơ thể làm giảm khả năng chịu đựng của da thông qua tác động lên cầu trúc hỗ trợ của da, hệ thống mach mau va bach huyét.
Tuổi cao là đặc điểm nhân khẩu học có liên quan nhiều nhất với nguy cơ phát triển loét ép, các yếu tố chủng tộc và giới tính hầu như không ảnh hưởng đến mức độ gia tăng nguy cơ loét ép [27]. Người bệnh trên 65 tuổi có nguy cơ cao hơn, và nguy cơ gia tăng ở những người trên 75 tuổi. Người bệnh bị các bệnh mạn tính, ảnh hưởng đến sự cung cấp máu cho các mô, hệ bạch huyết và suy giảm cảm giác, giảm Hemoglobin và tế bào Lympho trong máu cũng làm tăng nguy cơ loét ép. Người bệnh ở giai đoạn mạn tính của chắn thương cột sống, bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu, gãy xương chi đưới và viêm phổi đã được xác định là yếu tố nguy cơ phát triển loét ép [34].
Các bệnh mạn tính và các tình trạng ảnh hưởng đến sự cung cấp máu cho các mô, hệ bạch huyết và suy giảm cảm giác làm tăng nguy cơ loét ép gồm: bệnh tiểu đường, bệnh động mạch ngoại vi, bệnh tim phổi mạn tính, huyết áp thấp, thiếu đinh dưỡng, hội chứng thận hư, suy thận, thuốc lá. Sự gia tăng nhiệt độ da cũng có liên quan với nguy cơ phát triển loét ép, mặc dù cơ chế không được hiểu rõ. Điều này có thê liên quan đến nhu cầu oxy tăng lên trong các mô đã bị tổn thương và tăng bài tiết mô hôi làm tăng độ âm của da. Tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng và mắt nước của NB làm tăng nguy cơ loét ép; điều này bao gồm các yếu tố như giảm cân trong thời gian gần đây, suy dinh dưỡng và chế độ ăn không đây đủ Protein hoặc năng lượng, nồng độ Protein, Albumin máu thấp.
Chế độ dinh dưỡng và sự hydrat hóa kém cũng liên quan đến da khô và giảm sự đàn hồi của da, làm tăng nguy cơ phát triển loét ép [27],[54]. Đánh giá nguy cơ loét ép Đánh giá nguy cơ loét ép nhằm mục dich làm giảm các nguy cơ tiềm ân gây loét ép và giúp cải thiện chất lượng chăm sóc NB. Các công cụ đánh giá nguy cơ loét ép phải có các giá trị tiên đoán, nhạy cảm cao, cụ thé, đáng tin cậy và dễ sử dụng. Đánh giá nguy cơ loét ép nên đựa trên giả định rằng tất cả NB đều có nguy cơ phát triển loét ép [56].
Việc đánh giá nguy cơ loét ép cần được thực hiện định kỳ tùy thuộc vào tình trạng của NH. Ví dụ, đánh giá nguy cơ lóet ép nên được thực 20 hiện vào ngày đầu tiên nhập viện và mỗi ngày 1 lần ở NB được nhận vào đơn vị chăm sóc dài hạn trong một tuần đầu, và sau đó mỗi tuần một lần trừ khi bệnh tình của NB thay đổi. Theo khuyến nghị của của Hiệp hội Điều dưỡng Ontario-RNAO [56] đánh giá nguy cơ phát triển loét ép của NB nên kết hợp đánh giá lâm sàng và sử dụng một công cụ đánh giá nguy cơ loet ép đã được kiểm tra về tính hợp lệ và độ tin cậy. Các công cụ đánh giá nguy cơ loét ép gồm Thang do Norton, Waterlow, và Braden, đánh giá da NB được đề cập trong hướng dẫn của AWMA (2012), là những công cụ thích hợp để đánh giá nguy cơ loét ép.
Thang đo Braden, Waterlow, Norton và đánh giá da NB được mô tả ngắn gọn dưới đây [20],|49]. Thang do Braden scale Thang đo Braden scale được sử dụng để dự đoán nguy cơ loét ép bao gồm sáu phần dùng để đánh giá các yếu tố lâm sàng của áp lực cao và kéo dài (hoạt động, di động, cảm nhận giác quan) hoặc sự chịu đựng của mô đối với áp lực (dinh dưỡng, độ 4m, ma sat va luc trượt). Mỗi phần bao gồm một tiêu đề, 4 cấp độ, mỗi cấp độ có một hoặc hai cụm từ mô tả các điều kiện áp dụng. Năm trong số các phần được đánh giá từ Iđiểm (ít thuận lợi) đến 4 điểm (thuận lợi nhất).
Mức độ ma sát và lực trượt được đánh giá từ lđiểm đến 3 điểm. Tổng điểm của thang điểm Braden scale là 23 điểm. Điểm đánh giá nguy cơ của NB càng thấp thì nguy cơ phát triển loét ép càng cao. Cụ thể: - - Nguy cơ thấp: từ 15 - 18 điểm - _ Nguy cơ trung bình: 13 - 14 điểm - _ Nguy cơ cao: 10 - 12 điểm - - Nguy cơ tất cao: < 10 điểm 1.