Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống Cải bắp có tên tiếng Anh: Head cabbage; tên khoa học: Brassica oleracea L. capitata thuộc giới (regnum): Plantae, ngành (divisio): Magnoliophita, lớp (class): Magnoliopsida, bô (ordo): Brassicales, họ thập tự: Crucifereae.
Trong sản xuất nông nghiệp giống là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất, chất lượng nông sản. Sử dụng các loại giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu cao là yêu cầu quan trọng tuy nhiên mỗi loại giống có một yêu cầu riêng về sinh thái cũng như điều kiện canh tác. Do đó để phát triển một loại cây trồng bất kỳ thì việc lựa chọn giống thích hợp là yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất. Cây cải bắp là loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới được di nhập vào nước ta và thường được trồng vào vụ Đông Xuân bắt đầu gieo hạt từ tháng 8 và kết thúc thu hoạch vào tháng 3 năm sau.
Có rất nhiều giống cải bắp đang được trông ở Việt Nam, trong đó những giống được trồng phổ biến như: giống Caakacr 1, giống giống Caakacr 2, giống Green heat, giống Green Nova, giống CB 26, giống Akcross, giống K 60 ( King 60), giống F1 TN 278, giống KK cross, giống Newtop, giống Hà Nội (cải bắp Phù Đổng); giống SaPa; giống NS Cross; giống KY Cross; giống GM - 78; giống BC 34; giống New star cross; giống Orient. Cơ sở khoa học về các biện pháp kỹ thuật * Cơ sở khoa học về BVTV trên rau cải bắp Các loại sâu, bệnh hại cải bắp chủ yếu ở nước ta gồm: Sâu tơ, Sâu xanh bướm trắng, Bọ nhảy sọc cong vỏ lạc, bệnh đốm lá, bệnh thối nhũn n 5 [43]. Để đảm bảo năng suất và chất lượng cải bắp thì việc phát hiện và phòng trị sâu bệnh kịp thời là một yêu cầu quan trọng. Tuy nhiên để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì người trồng rau phải đặc biệt chú ý tới danh mục các loại thuốc BVTV cũng như thời gian cách ly thuốc.
Ở nước ta hiện nay có 2 loại thuốc BVTV sinh học đang được phát triển và được nông dân tin dùng là BT và NPV, để đánh giá hiêu lực của 2 loại thuốc này đối với 2 loại sâu tơ và sâu xanh bướm trắng trên cây cải bắp vụ Đông Xuân sớm tại Quyết Tiến chúng tôi thực hiện các thí nghiệm với 3 công BVTV và 1 công thức đối chứng (chỉ phun nước), trong đó công thức Sherpa 25 EC là công thức nông dân để so sánh với 2 công thức BT và NPV. + BT: theo (wikipedia.org) Bacillus thuringiensis (viết tắt: Bt) là vi khuẩn Gram dương, là loài vi khuẩn đất điển hình được phân lập ở Thuringia (Đức) Bt có khả năng tổng hợp protein gây tệ liệt ấu trùng của một số loài côn trùng gây hại, trong đó có sâu đục quả bông, các loài sâu đục thân ngô ở Châu Á và Châu Âu. Chúng đều là sâu hại thực vật phổ biến, có khả năng gây ra những sự tàn phá nghiêm trọng. BT thuộc nhóm độc III; LD 50 qua miệng >8.000 mg/kg, rất ít độc đối với môi trường và ký sinh có ích, không độc đối với cá và ong mật.
Là loại thuốc nguồn gốc vi khuẩn, được sản xuất bằng phương pháp lên men vi khuẩn Bacillus thuringiensis. Sản phẩm lên men là độc tố ở dạng tinh thể và bào tử. Độc tố này là những hợp chất đạm cao phân tử không bền vững trong môi trường kiềm, môi trường axít mạnh và dưới tác động của một số loại men; không tan trong nước và trong nhiều dung môi hữu cơ, nhưng tan trong dung dịch kiềm có độ pH từ 10 trở lên, tan trong dịch ruột của ấu trùng sâu bộ Lepidoptera. Độ lớn của tinh thể độc tố từ 0,5-2 µm.
Cơ chế tác động: Bước 1: Xâm nhập vào các ấu trùng của côn trùng qua đường tiêu hóa. n 6 Bước 2: Protein Bt được hoạt hóa dưới tác động của môi trường kiềm trong ruột côn trùng. Bước 3: Chọc thủng ruột giữa gây ra sự tổn thương làm chúng ngừng ăn. Sau đó một vài ngày chúng chết.
Với khả năng sản sinh protein độc tố có khả năng diệt côn trùng, Bt đã, đang được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và khám phá giá trị nông học của chúng. Đến nay, hơn 200 loại protein của Bt đã được phát hiện với các nồng độ độc tố diệt một số loài côn trùng khác nhau. + NPV (Nucleopolyhedrovirus): là chế phẩm trừ sâu hoạt lực cao, gồm 2 loại V- Ha và V- S1. Thuốc chuyên dùng để diệt trừ sâu xanh, sâu khoang, sâu xanh đốm trắng, sâu tơ trên các loại cây rau màu, cây công nghiệp, cây ăn quả với hiệu quả rất cao.
NPV có nồng độ đặc hơn so với các loại thuốc khác, sử dụng tương đối dễ dàng: chỉ cần hoà thuốc vào bình và phun bình thường với liều lượng 1,0- 1,2 kg/ ha. Chu trình sống và cơ cơ chế lây nhiễm gây độc của nucleopolyhedrovirus (NPV): khi vật chủ ăn thức ăn có chứa virus thể bọc, virus sẽ theo đường tiêu hóa đi vào ruột giữa; môi trường kiềm tại ruột giữa sẽ phá tan thể bọc, giải phong các virion. Virion xâm nhập qua tế bào thành ruột vào trong tế bào khác. Tại đây chúng sử dụng bộ máy tế bào chủ thực hiện quá trình sao chép, phiên mã và dịch mã tạo ra các virion mới; Virion mới nảy chồi, thoát ra khỏi tế bào thành ruột trở thành dạng virus nảy chồi; Do lớp bọc ngoài là từ màng tế bào thành ruột nên virus này có thể xâm nhập tiếp vào các tế bào thuộc các mô khác của côn trùng; Virus tấn công vào tất cả các loại tế bào khác nhau trong cơ thể vật chủ, ở mỗi tế bào chu trình trên lại được tiếp tục.
Tuy nhiên, thay vì tạo ra các virion nảy chồi, các virus tạo ra tập hợp lại, được bao bởi các protein polyhedrin đặc biệt tạo ra cấu trúc thể n 7 bọc gây tan tế bào. Vật chủ bị tiêu diệt giải phóng hàng loạt thể bọc. Các thể bọc này lại tiếp tục tấn công vào cơ thể mới. + Sherpa 25 EC: Hoạt chất chính: Cypermethrin 250gr/ l, hãng sản xuất: Bayer của Đức là loại hóa chất có thể trừ sâu ở phổ rộng được sử dụng để trừ sâu trên nhiều loại đối tượng cây trồng và được sử dụng phổ biến.
* Cơ Sở khoa học về biện pháp vòm che thấp đối với rau cải bắp + Cải bắp có khả năng canh tác ngoài trời và trồng trong điều kiện có bảo vệ. Trong điều kiện nhà kính, nhà lưới, tiểu khí hậu nhân tạo thích hợp nhất được thành lập. Rau trồng trong điều kiện bảo vệ thường cho năng suất rất cao 250 - 300 tấn/ ha/ năm, tuy nhiên chi phí canh tác cũng cao vì tốn nhiều công lao động, năng lượng và nhu cầu kỹ thuật thâm canh cao. + Ở các nước có nền nông nghiệp phát triển rau xanh được sản xuất trong nhà kính (greenhouse); nhà lưới (net house) và được chăm sóc trong điều kiện hoàn toàn nhân tạo có hệ thống điều hòa tạo tiểu khí hậu nhân tạo và được cung cấp dinh dưỡng qua hệ thống tưới nước và dinh dưỡng chủ động như trồng bằng công nghệ thủy canh, khí canh nên có thể trồng quanh năm, năng suất rất cao (200 tấn/ ha/ vụ), chất lượng rất đồng đều.
+ Đối với cây cải bắp trồng vụ Đông Xuân sớm tại Quyết Tiến hiên đang gặp một số khó khăn như trồng vào đầu vụ nên nhiệt độ không khí cao lại thường xuyên có mưa lớn, điều kiện khí hậu nóng ẩm, sâu bệnh phát triển mạnh nên hiệu lực của thuốc BVTV bị giảm sút do mưa thường xuyên. Vòm che thấp có thể làm giảm một số yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng cải bắp trồng vụ Đông Xuân sớm. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của vòm che thấp đến sinh trưởng và năng suất của cải bắp. * Cơ sở khoa học về ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất của rau cải bắp.
n 8 + Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây. Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các enzym và nhiều loại vitamin trong cây. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây trồng. Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh.
Trong số các nhóm cây trồng như cây ăn lá: rau cải, cải bắp rất cần đạm. Đạm là nhân tố quyết định đến tốc độ sinh trưởng cũng như năng suất cây trồng: Thiếu đạm cây có biểu hiện sinh trưởng còi cọc, lá toàn thân biến vàng. Thiếu đạm có nghĩa là thiếu vật chất cơ bản để hình thành tế bào nên khả năng sinh trưởng bị đình trệ, hàng loạt các quá trình sinh lý sinh hóa trong cây cũng bị ngưng trệ, diệp lục ít được hình thành nên làm lá chuyển vàng. Tuy nhiên nếu bón thừa đạm cũng không tốt: Thừa đạm sẽ làm cho cây không chuyển hóa hết được sang dạng hữu cơ, làm tích lũy nhiều dạng đạm vô cơ gây độc cho cây.
Thừa đạm sẽ làm cho cây sinh trưởng thái quá, gây vóng. Các hợp chất các bon phải huy động nhiều cho việc giải độc đạm nên không hình thành được các chất “xơ” làm cây yếu, các quá trình hình thành hoa quả bị đình trệ làm giảm hoặc không cho thu hoạch v. ngoài ra đối với các loại rau ăn lá như cải bắp thừa đạm còn làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm cũng như gây ra tác hại không tốt cho sức khỏe con người. Để đánh giá ảnh hưởng của đạm đến năng suất của cải bắp vụ Đông Xuân sớm tại Quyết Tiến trong điều kiện thâm canh chưa cao chúng tôi tiến hành thí nghiệm để xác định mối tương quan của lượng đạm và năng suất cải bắp với các liều lượng bón khác nhau.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Quyết Tiến là xã có điều kiện khí hậu và thổ những thuận lợi để phát triển các loại cây rau, hoa. Nghề trồng rau, hoa đang được chính quyền rất quan tâm và một bộ phận người dân đang thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực sang trồng cây rau. Tuy nhiên diện tích, sản lượng và chủng loại rau chưa đa dạng.