Đặt vấn đề Ở nước ta, dê là một loài vật truyền thống và được phân bố khá rộng rãi, đặc biệt là các vùng trung du và miền núi phía Bắc. Đàn dê chiếm một tỷ lệ khá lớn và được chăn nuôi theo phương thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn thiên nhiên là chủ yếu. Con dê ngày càng khẳng định được những ưu thế của nó trong ngành chăn nuôi ở nước ta. Theo số liệu của Tổng cục thống kê nông nghiệp Việt Nam [25], tổng số đàn dê cả nước năm 2019 là 2.
Sản lượng thịt dê hơi xuất chuồng tại thời điểm năm 2019 là 34318,9 tấn, số con xuất chuồng là 1. Đối với tỉnh Thái Nguyên - một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, số lượng dê của tỉnh (theo niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2019) [24] cũng có sự biến động qua các năm, cụ thể năm 2019 tổng số đàn dê là 21.981 con giảm hơn so với 2018 (20. Do số lượng dê bị giảm nên kéo theo sản lượng thịt hơi xuất chuồng cũng giảm, năm 2019 sản lượng của tỉnh Thái Nguyên là 532 tấn. Mặc dù con dê đã và đang dần khẳng định được những ưu thế của nó nhưng để ngành chăn nuôi dê phát triển hơn nữa cần rất nhiều yếu tố để thúc đẩy, đặc biệt là những nghiên cứu sâu hơn về khả năng sản xuất của con dê trong thời kỳ sắp tới.
Với lợi thế có nhiều đồi núi, huyện Định Hóa - tỉnh Thái Nguyên đã hình thành nghề chăn nuôi dê từ rất sớm. Tuy nhiên trong đó chủ yếu là dê lai, đàn dê địa phương hiện còn rất ít và được biết đến với tầm vóc nhỏ, mắn đẻ, số con đẻ ra/lứa thấp; tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa không cao bằng những giống dê khác vì dê địa phương có điểm hạn chế là nguồn sữa ít, không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho dê con khi nuôi từ 2 con trở lên. Để so sánh khả năng sinh sản của dê địa phương Định Hóa nuôi tại một số mô hình của m 2 huyện Định Hóa với những lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm chăn nuôi truyền thống của người dân đại phương với đàn dê địa phương Định Hóa được nuôi tại mô hình tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh sản và điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương Định Hóa nuôi tại hợp tác xã chăn nuôi động vật bản địa huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Đánh giá khả năng sinh sản của dê địa phương Định Hóa nuôi tại mô hình xã Tức Tranh, huyện Phú Lương.
Điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn dê địa phương nuôi tại mô hình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đánh giá được khả năng sinh sản của dê nuôi tại mô hình Phú Lương - Thái Nguyên và biết cách chẩn đoán, phòng trị một số bệnh thường xảy ra cho dê có hiệu quả cao. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả thu được của đề tài là cơ sở trong việc đề xuất các chính sách, nhằm thúc đẩy ngành chăn nuôi dê phát triển và bảo tồn giống dê địa phương Định Hóa.
m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lí Huyện Phú Lương nằm ở phía bắc tỉnh Thái Nguyên, có diện tích 350,72 km2, dân số năm 2017 là 94.203 người, mật độ dân số đạt 269 người/km2 Có vị trí địa lý: Phía đông giáp huyện Đồng Hỷ Phía tây và tây nam giáp huyện Đại Từ Phía nam giáp thành phố Thái Nguyên Phía bắc và tây bắc giáp huyện Định Hóa Phía đông bắc giáp huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
Điều kiện khí hậu Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 21℃, độ ẩm tương đối cao trung bình khoảng 80,67%. Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.360 giờ, lượng mưa trung bình từ 2000 – 2. Khí hậu rất thuận lợi cho việc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa, đặc biệt là dê. Điều kiện kinh tế - xã hội 2.
Giao thông Phú Lương nằm ở phía bắc tỉnh Thái Nguyên. Các xã gần trục đường chính nên rất thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi. Thủy lợi Sông suối ở Phú Lương có nhiều nhưng không có các sông lớn có giá trị giao thông đường thủy nhưng lại phân bố không đều nên gặp nhiều khó khăn m 4 trong việc tiệc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Kênh, mương, đường ống, cống thoát tại địa phương được đầu tư xây dựng đảm bảo công tác cấp thoát nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi.
Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi của huyện Chăn nuôi khá phát triển, hầu như các hộ gia đình nông dân nào cũng nuôi lợn, trâu, bò, ngựa, dê phục vụ cho nhu cầu địa phương và xuất bán về xuôi, nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi đã làm chuyển biến tập quán chăn nuôi của địa phương, chuyển sang hướng chăn nuôi công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao. Theo hướng chuyển dịch cơ cấu nông lâm nghiệp, tỷ trọng chăn nuôi đang có xu hướng tăng dần, đưa chăn nuôi trở thành một ngành sản xuất chính trong nông lâm nghiệp. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Nguồn gốc và vị trí phân loại dê Các nhà khoa học đã xác định rằng, dê nhà đã xuất hiện cách đây 6 - 7 nghìn năm trước công nguyên. Kết quả đây cũng phù hợp với kết quả xác định niên đại các mảnh xương dê nhà được tìm thấy di chỉ đồ đá mới của Jeri, nhìn chung khó xác định được thật chính xác thời điểm con người thuần hóa dê rừng. Nhưng với tài liệu tìm thấy gần đây người ta cho rằng: nơi thuần hóa đầu tiên là ở Châu Á, vào thiên niên kỷ thứ 7 - 9 trước công nguyên, tại vùng núi Tây Á. Thực tế ngày nay người ta còn thấy nhiều loài dê nguyên thủy với số lượng lớn ở thung lũng đầu nguồn Sông Ấn và những dãy núi nằm ở phía Đông sông này.
Giống như các vật nuôi khác, sau khi thuần hoá, đầu tiên dê được nuôi với mục đích lấy thịt, sau đó nuôi dê để lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm nhất, thậm chí còn sớm hơn cả bò lấy sữa, bởi lẽ vắt sữa dê đơn m 5 giản hơn nhiều so với bò và sau đó dê cũng được nuôi để lấy lông. Người ta cho rằng dê nhà ngày nay (Capra hircus) có nhiều nguồn gốc khác nhau. Tổ tiên trực tiếp dê nhà gồm 2 nhóm dê rừng chính: - Dê rừng Bezoar (Capra aegagrus) được tìm thấy ở tận các nước Tiểu Á, là tổ tiên của phần lớn dê nhà đang được nuôi ở Châu Á và Châu Âu. Nó được coi là nhóm tổ tiên thứ nhất của dê nhà.
Dê thuộc nhóm này có sừng thẳng nhưng xoắn vặn. - Dê rừng Markhor (Capra Faloneri), nhóm này có sừng cong vặn về phía sau và được coi là nhóm tổ tiên thứ 2 của dê nhà, còn thấy ở vùng núi Hymalaya và được nuôi nhiều ở hai bên sườn phía Đông và phía Tây của dãy núi này. Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir - Karakorum. Vị trí phân loại của dê: - Dê thuộc lớp động vật có vú (Mammalia) - Bộ guốc chẵn (Actiodactila) - Bộ phụ nhai lại (Ruminantia) - Họ sừng rỗng (Covicorvia) - Họ phụ dê cừu (Capra rovanae) - Thuộc loài dê (Capra) Trong số động vật nông nghiệp thì dê gần gũi với cừu và được xếp chung vào nhóm gia súc nhai lại nhỏ có sừng.
Tuy con dê được xếp cùng trong họ phụ dê cừu nhưng nó khác hẳn cừu không chỉ ở ngoại hình, mà dê còn khác về tập tính hoạt động như thích leo trèo núi đá, ăn được rất nhiều loại lá cây mà cừu không ăn được. Đặc điểm dê địa phương Định Hóa Tổ tiên của giống dê địa phương Định Hóa là loài dê núi Sơn Dương, người dân địa phương gọi là dê Nản. Dê địa phương Định Hóa có thân hình thấp m 6 nhỏ so với các giống dê ngoại nhập. Màu lông khá đa dạng (chủ yếu màu cánh gián, màu vàng nhạt và màu xám).
Khối lượng sơ sinh của dê Nản từ 1,2 - 1,3kg; 6 tháng tuổi con đực khoảng 7kg, con cái có trọng lượng khoảng 5kg; trưởng thành con đực nặng khoảng 25 - 30kg, con cái có trọng lượng khoảng 17 - 20kg. Dê có đầu to, đôi tai nhỏ, ngắn, hướng ngang sang hai bên, cổ ngắn, môi linh hoạt, răng cửa sắc. Dê có 2 gốc sừng gần sát nhau và choãi ra, mặt cắt ngang sừng dê có hình tam giác. Trán dê lồi, xương mũi thẳng.
Ở dê cái sừng nhỏ và ngắn hơn sừng dê đực. Sừng dê có nhiều hình dáng cong ngược về phía sau, thẳng đứng, cong lên trên, chĩa ra 2 bên… cả dê đực và dê cái đều có râu. Đặc điểm tiêu hóa Dê có khả năng tiêu hóa được các loại thức ăn có chứa đến 64% chất xơ. Chúng có thể ăn được lượng VCK trong thức ăn cao hơn cừu và bò.
Khả năng ăn được lượng vật chất khô trong thức ăn so với khối lượng của cơ thể của: Dê 2,5 - 4% KL cơ thể, Bò 1,5 - 2% KL cơ thể, Cừu 1,5 - 2,5% KL cơ thể Môi của dê mỏng và linh hoạt để lựa chọn thức ăn. Lưỡi của dê khá dài và linh hoạt, bề mặt nhám có thể cuốn đứt cỏ lá đưa vào miệng. Dê có 3 tuyến tiết ra nước bọt, một ngày đêm dê tiết ra 7 - 8 lít nước bọt. Tiêu hóa trong xoang miệng chủ yếu là về phương tiện cơ học.
Dạ dày dê gồm 4 túi, lần lượt từ trái sang phải là dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Trong đó 3 túi ở phía trước là dạ cỏ, tổ ong, lá sách được gọi là phần dạ dày trước. Một túi phía sau gọi là dạ múi khế, gọi là dạ dày sau. Dạ dày trước không có tuyến tiêu hóa mà chỉ có các tế bào phụ tiết ra các dịch nhầy; chỉ có dạ múi khế có các tuyến tiết ra dịch tiêu hóa tương tự dạ dày đơn.
Kích thước, dung tích và khối lượng của các túi thay đổi theo tuổi. Khi dê con mới sinh, dạ múi khế hoạt động là chủ yếu, nó chiếm 70% dung tích dạ m 7 dày, các dạ khác chỉ chiếm 30%.