Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Những cơ sở lý luận cho lập Quy hoạch sử dụng đất a. Khái niệm Quy hoạch Về mặt thuật ngữ, "Quy hoạch" được hiểu là việc lập kế hoạch và sử dụng một "khả năng nhất định" một cách hiệu quả cho một mục đích cụ thể, dựa trên những điều kiện cụ thể để tối ưu hóa việc sử dụng khả năng đó.
"Quy hoạch" đất là sử dụng một phần đất cụ thể, cùng với vị trí, cấu trúc và khu vực có các đặc điểm tự nhiên hoặc mới được tạo ra, tạo ra một loại hình sử dụng cụ thể cho các mục đích khác nhau (Lương Văn Hinh & cs, năm 2020). Khái niệm Quy hoạch đất đai Quy hoạch sử dụng đất là một chương trình kỹ thuật và pháp lý được thực hiện ở cấp chính phủ nhằm quản lý việc SDĐ một cách triệt để, hợp lý, khoa học và hiệu quả thông qua việc phân phối và quản lý hàng hóa trên toàn quốc với mục đích cải thiện việc SDĐ như đất đai. Thực hiện tổ chức năng lực sản xuất và các tài sản sản xuất khác của đất đai, tất cả đều nhằm mục đích tăng năng suất xã hội và tạo ra các cách bảo vệ đất đai và môi trường(Lương Văn Hinh & cs, năm 2020). Bản chất Quy hoạch sử dụng đất Về bản chất, đất đai là yếu tố thể hiện mối liên kết giữa sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất như một "phương thức sản xuất đặc biệt" gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội, đồng thời phản ánh ba yếu tố: kinh tế, kỹ thuật và pháp lý.Trong đó: - Kinh tế: Thể hiện qua việc SDĐ đai hiệu quả; - Kỹ thuật: Khảo sát, nghiên cứu, lập bản đồ, QH, xử lý dữ liệu, v. bao gồm các hoạt động kỹ thuật chuyên biệt 4 Vì vậy: “Bảo vệ đất và môi trường bằng cách thiết lập các phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức một cách đầy đủ, hợp lý, khoa học và hiệu quả, thông qua việc phân bổ quỹ đất (được chỉ định cho mục đích công nghiệp) và quản lý việc SDĐ như một phương tiện sản xuất (sử dụng các giải pháp đặc biệt)" (Lương Văn Hinh & cs, năm 2020). Nhìn chung, quy hoạch SDĐ là một quá trình đưa ra quyết định nhằm đảm bảo việc SDĐ bền vững nhằm mang lại lợi ích lớn hơn. Nó thực hiện đồng thời hai chức năng: sửa đổi tương tác đất đai và quy hoạch SDĐ như một nguồn tài nguyên cụ thể.
mục tiêu sản xuất. Tăng năng suất cộng đồng đồng thời bảo vệ đất đai và môi trường. Mặt khác, quy hoạch SDĐ cũng là chiến lược thiết thực để nhà nước tổ chức lại việc SDĐ phù hợp với mục đích của mình, giảm bớt những hạn chế gây lãng phí đất đai, ngăn chặn tình trạng tự ý chuyển mục đích, từ đó làm giảm quỹ nông nghiệp (đặc biệt là đất nông nghiệp)…diện tích đất nông nghiệp trồng lúa, diện tích rừng phòng hộ và đất rừng tư nhân); Tránh các tình huống bất lợi dẫn đến mất mát hoặc hạn chế sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, xung đột, chiếm đoạt, hủy hoại đất đai, suy thoái, ô nhiễm môi trường và đặc biệt là những hậu quả không mong muốn đối với tình hình chính trị, an ninh quốc gia và lực lượng ở mỗi quốc gia khu vực. Đặc điểm Quy hoạch sử dụng đất đai * Lịch sử - cơ cấu xã hội: Lịch sử phát triển của cộng đồng chính là lịch sử phát triển của cốt truyện.
Mỗi hệ thống kinh tế - xã hội đều tồn tại dưới hai hình thức sản xuất: lực lượng sản xuất (thể hiện mối quan hệ giữa con người với các yếu tố tự nhiên hoặc sự vật trong quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (thể hiện mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất).Trong QH SDĐ luôn nảy sinh các mối quan hệ giữa con người và đất đai - các lực lượng tự nhiên (như khảo sát, đo lường, phát hiện, thiết kế) cũng như các mối quan hệ giữa con người với nhau về quyền lợi, quyền SDĐ giữa 5 các chủ sở hữu đất (được xác minh bằng bằng chứng) - quyền SDĐ tài liệu ). * Tính tự chủ: QH SDĐ bao trùm nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế, xã hội, môi trường. * Tính dài hạn: Trên cơ sở dự báo dài hạn về sự biến động của các yếu tố kinh tế, kinh tế chủ yếu, xác định Quy hoạch sử dụng đất dài hạn, đưa ra định hướng, chính sách, chiến lược phù hợp, tạo cơ sở thông tin cho việc xây dựng các giải pháp ngắn hạn về SDĐ và cả tính bền vững. * Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Quy hoạch sử dụng đất chỉ dự tính quá trình thay đổi phương hướng, mục đích và cơ cấu phân bổ đất đai (nói chung là không lường trước được cơ cấu, nội dung và chi tiết), với thời gian ngày càng dài hơn.
Vì vậy, các thông số, quy hoạch và chiến lược SDĐ được đề xuất đều mang tính định hướng vĩ mô, có tầm nhìn và tổng thể trong SDĐ. * Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất phần lớn phản ánh các yếu tố chính trị và xã hội. Khi chuẩn bị chương trình, điều quan trọng là phải hiểu rõ các chính sách, quy định của đảng, nhà nước, hiểu mục tiêu phát triển kinh tế đất nước và phát triển các chương trình thực hiện kinh tế ở cấp quốc gia. * Tính khả biến: Quy hoạch cần được thay đổi, hoàn thiện, hoàn thiện và chiến lược thực hiện cần thay đổi.
Điều này cho thấy sự khác biệt trong SDĐ luôn dự báo về công suất, chất lượng, tỷ lệ hoàn thành và độ lan rộng, điều chỉnh kế hoạch số “Kế hoạch - thực hiện – Quy hoạch lại hoặc cập nhật - tiếp tục thực hiện…” (Lương Văn Hinh và cs, năm 2020). Khái quát một số vấn đề khả thi, hiệu quả của Quy hoạch sử dụng đất a. Khái niệm 6 Theo từ điển tiếng Việt thì “đo lường là cơ sở để khái niệm hóa, phân loại sự vật, khái niệm”. Từ góc độ trên, tiêu chí đánh giá tính khả thi của Quy hoạch sử dụng đất và cách chuẩn bị tốt nhất có thể được hiểu như sau: Đáp ứng được các tiêu chuẩn hoặc tiêu chí cho từng yếu tố.
Cần phải có tiêu chuẩn so sánh, có thể là tiêu chuẩn hoặc mức độ đánh giá, dựa trên nguyên tắc, tiêu chuẩn chính thức, đơn giá hoặc thỏa thuận chính thức ở cấp độ đó. Bản chất và phân loại Nhìn chung, tính khả thi đề cập đến khả năng thực hiện chương trình Quy hoạch sử dụng đất nếu đáp ứng được các điều khoản hoặc điều kiện nhất định, cả trong tính toán và thực hiện. Nhận thức được chiều hướng nhận thức trong việc lập và đánh giá Quy hoạch sử dụng đất, khả năng lập Quy hoạch sử dụng đất với các thông số khách quan và “xác suất” được xác định, tính toán bằng các thông số; “Thực tế thực hiện” được xác định bằng kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả thực tế thu được trong quá trình thực hiện chương trình Quy hoạch sử dụng đất đai. Kế hoạch sử dụng đất a.
Khái niệm Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất. Trong đó, thời kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc gia, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng và kế hoạch sử dụng đất an ninh là 05 năm; kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm (Luật Đất đai, 2013). Các nguyên tắc lập kế hoạch sử dụng đất Việc lập kế hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định tại Điều 35 Luật Đất đai 2013 (được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018). Vị trí, vai trò của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là động lực cho phát triển kinh tế, xã hội gắn với bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu.
Do đó, các chính sách về nội dung này cần xác lập lại vị trí, chức năng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, trong đó, làm rõ hệ thống quy hoạch, mối quan hệ giữa quy hoạch đất đai với các quy hoạch khác. Lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, phải xác định quy hoạch sử dụng đất là “trái tim” của Luật Đất đai. Quy hoạch là công cụ để thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai có 3 vấn đề: vai trò quy hoạch, hệ thống quy hoạch và nội dung quy hoạch. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Đất đai năm 2013; - Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015; - Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về quản lý và phát triển đô thị; - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; - Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; - Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; - Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; - Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; - Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định 8 quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.