Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhu cầu cấp thiết phải đổi mới máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ và phương tiện vận tải nhằm duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính hạn chế và gặp nhiều rào cản khi tiếp cận vốn tín dụng trung, dài hạn từ kênh ngân hàng thương mại do thiếu tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng chưa đủ dài hoặc tỷ lệ tài trợ trên giá trị dự án thấp. Trong bối cảnh đó, cho thuê tài chính (CTTC) nổi lên như một kênh tài trợ vốn trung và dài hạn tối ưu, cho phép tài trợ tới 100% chi phí mua sắm thiết bị mà không bắt buộc có tài sản thế chấp truyền thống vì quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản thuộc về bên cho thuê.
Theo báo cáo của White Clarke Group (2018), doanh số cho thuê tài chính toàn cầu hàng năm đạt quy mô lớn. Tại Hoa Kỳ, 80% doanh nghiệp từ quy mô nhỏ đến danh sách Fortune 500 đều sử dụng hình thức thuê thiết bị; tại Nhật Bản, trên 96% doanh nghiệp sử dụng với doanh số khoảng 50 tỷ USD/năm; dư nợ tại Thái Lan đạt 3 tỷ USD, Hàn Quốc đạt 17 tỷ USD và Trung Quốc sở hữu hơn 3.200 công ty với dư nợ vượt 206 tỷ USD. Ngược lại, tại Việt Nam, qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng khi tổng dư nợ năm 2017 chỉ đạt 383 triệu USD (tương đương 8.600 tỷ đồng), chỉ bằng 12,77% so với Thái Lan và chiếm tỷ trọng vỏn vẹn 0,16% tổng dư nợ của toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Nhằm làm rõ thực trạng vận hành của một định chế tài chính phi ngân hàng trực thuộc ngân hàng thương mại, tác giả Nguyễn Thị Như Quỳnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Đánh giá hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu".
Khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tổng hợp các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACB Leasing) giai đoạn 2013–2017.
- Đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu.
- Phạm vi không gian: Công ty TNHH MTV Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (gồm trụ sở chính tại TP. Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng được thu thập trong giai đoạn 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả xây dựng khung lý thuyết dựa trên các chuẩn mực và công trình nghiên cứu kinh tế - tài chính tiêu chuẩn:
- Khái niệm và bản chất: Tiếp cận khái niệm cho thuê tài sản (leasing) theo Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC, 2009); khái niệm cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn tách biệt giữa quyền sở hữu (bên cho thuê) và quyền sử dụng (bên thuê).
- Tiêu chuẩn phân loại: Áp dụng hệ thống 8 tiêu chí phân định giữa cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động của Ủy ban Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IASC, 1997) cùng tiêu chí so sánh 7 khía cạnh nghiệp vụ của Tô Ngọc Hưng (2014) về thời hạn thuê, quyền hủy ngang, trích khấu hao, trách nhiệm bảo trì, mức thu hồi vốn, chuyển quyền sở hữu và phân chia rủi ro tài sản.
- Lý thuyết hiệu quả và quản trị: Khái niệm hiệu quả kinh tế theo Ngô Đình Giao (1997) và vai trò của nguồn nhân lực trong định chế tài chính theo Đặng Văn Dân (2016).
- Khung pháp lý điều chỉnh: Rà soát hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam, bao gồm: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị định số 39/2014/NĐ-CP; các Thông tư số 30/2015/TT-NHNN, Thông tư số 15/2016/TT-NHNN, Thông tư số 20/2017/TT-NHNN, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước; và Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm hai nhóm chính:
- Phương pháp tổng hợp lý luận: Thu thập, phân loại và hệ thống hóa các giáo trình, công trình khoa học trong và ngoài nước để định hình cơ sở lý thuyết về bản chất, lợi ích, các mô hình giao dịch và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho thuê tài chính.
- Phương pháp thu thập, phân tích, đối chiếu so sánh: Thu thập dữ liệu tài chính thứ cấp từ báo cáo tài chính của ACB Leasing và số liệu thống kê của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam (VILEA); sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, so sánh biến động theo chuỗi thời gian (2013–2017) và so sánh ngang với các công ty cùng ngành (VCB Leasing, VietinBank Leasing, Sacombank Leasing) nhằm nhận diện kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm báo cáo tài chính kiểm toán và báo cáo hoạt động kinh doanh nội bộ của ACB Leasing (2013–2017), số liệu thường niên của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam (2013–2017), báo cáo ngành của White Clarke Group (2018) và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho thuê tài chính
Chương 1 khái quát lịch sử hình thành hoạt động cho thuê từ thời cổ đại (Sumerians, Babylonia, Hy Lạp) đến dấu mốc ra đời công ty cho thuê tài chính hiện đại đầu tiên là United States Leasing Corporation vào năm 1952 tại Hoa Kỳ. Tác giả phân tích các đặc trưng cốt lõi của giao dịch cho thuê tài chính, chỉ rõ sự tách biệt giữa quyền sở hữu pháp lý và quyền sử dụng kinh tế đối với tài sản. Lợi ích của nghiệp vụ này được làm rõ trên bốn góc độ: bên thuê (tài trợ vốn 100%, không yêu cầu tài sản thế chấp, giảm đọng vốn cố định, tiếp cận công nghệ hiện đại); bên cho thuê (đa dạng danh mục tín dụng, an toàn vốn cao vì tài sản không bị phát mại khi bên thuê phá sản); nhà cung cấp (thúc đẩy tiêu thụ máy móc, không chịu rủi ro công nợ); và nền kinh tế (khơi thông dòng vốn trung dài hạn, nâng cao trình độ công nghệ quốc gia).
Chương này cũng phân loại chi tiết các hình thức cho thuê tài chính:
- Hình thức cơ bản: Cho thuê tài chính hai bên (thường do nhà cung cấp kiêm bên cho thuê thực hiện) và cho thuê tài chính ba bên (bên cho thuê mua tài sản theo chỉ định của bên thuê từ nhà cung cấp).
- Hình thức đặc biệt: Tái cho thuê (mua và cho thuê lại - sale and leaseback nhằm giải phóng vốn lưu động cho doanh nghiệp), cho thuê tài chính liên kết (đồng tài trợ cho các dự án vượt hạn mức quy định), cho thuê tài chính giáp lưng (bên thuê thứ nhất cho bên thuê thứ hai thuê lại dưới sự đồng ý của bên cho thuê), và cho thuê tài chính hợp tác (bên cho thuê vay vốn từ định chế khác để tài trợ tài sản lớn).
Tác giả xác định 3 nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động CTTC gồm: nhân tố khách quan (môi trường kinh tế - chính trị, khung khổ pháp lý); nhân tố chủ quan thuộc bên cho thuê (năng lực nguồn vốn, cơ cấu tài sản, chính sách lãi suất, mạng lưới giao dịch, chiến lược marketing, quy trình thẩm định - kiểm soát sau cấp tín dụng, chất lượng nhân sự); và nhân tố từ bên thuê (đạo đức kinh doanh, năng lực khai thác tài sản). Đồng thời, chương 1 thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá gồm: tốc độ tăng trưởng dư nợ, tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA), tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu (nợ nhóm 3 đến nhóm 5).
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu
Chương 2 phân tích bức tranh tổng thể ngành CTTC Việt Nam: tính đến năm 2017, toàn thị trường chỉ có 11 công ty hoạt động (6 công ty con của ngân hàng thương mại trong nước, 3 công ty 100% vốn nước ngoài, 1 công ty liên doanh BIDV – SuMi TRUST thành lập năm 2017, và 1 công ty thuộc Vinashin). Toàn hệ thống có 2.286 khách hàng và 458 nhân sự; trong đó chỉ có 4 công ty hoạt động có lãi và không có lỗ lũy kế (VietinBank Leasing, VCB Leasing, ACB Leasing, Sacombank Leasing). Các đơn vị còn lại như Agribank Leasing I đang bị rao bán, BIDV Leasing bị thu hồi giấy phép, Agribank Leasing II và Vinashin Leasing đang trong diện tái cơ cấu do tổn thất từ danh mục tài trợ tàu biển.
Về thực trạng tại ACB Leasing (thành lập năm 2007, vốn điều lệ ban đầu 100 tỷ đồng, tăng lên 300 tỷ đồng từ năm 2015; gồm trụ sở chính tại TP. Hồ Chí Minh và chi nhánh Hà Nội), tác giả phân tích dữ liệu hoạt động giai đoạn 2013–2017:
- Tình hình dư nợ và thị phần: Dư nợ cho thuê tài chính có xu hướng giảm liên tục từ 973 tỷ đồng (2013) xuống 947,58 tỷ đồng (2014), 894,35 tỷ đồng (2015), phục hồi nhẹ lên 906 tỷ đồng (2016) và giảm về 850 tỷ đồng (2017), tương ứng mức giảm 12,64% sau 5 năm. Tuy nhiên, thị phần của ACB Leasing trong Hiệp hội VILEA lại tăng từ 6,62% (2013) lên 9,88% (2017) do tổng dư nợ toàn ngành suy giảm nhanh hơn (hệ quả từ việc dừng giải ngân để tái cơ cấu của 3 công ty lớn). Dư nợ của ACB Leasing thấp hơn gần 2 lần so với Sacombank Leasing – đơn vị có cùng quy mô vốn điều lệ 300 tỷ đồng (dư nợ của Sacombank Leasing năm 2017 đạt 1.591 tỷ đồng).
- Cơ cấu tài sản cho thuê: Có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Danh mục máy móc thiết bị giảm từ 601,776 tỷ đồng (chiếm 61,85% năm 2013) xuống 343,638 tỷ đồng (chiếm 40,43% năm 2017); dây chuyền sản xuất giảm từ 28,70% xuống 16,94%; phương tiện vận chuyển (ô tô các loại) tăng trưởng vượt bậc từ 53,173 tỷ đồng (chiếm 5,46% năm 2013) lên 323,850 tỷ đồng (chiếm 38,10% năm 2017); thiết bị y tế duy trì tỷ trọng thấp dưới 5% (năm 2017 đạt 38,546 tỷ đồng, chiếm 4,53%); dư nợ tàu thuyền giảm từ 2,556 tỷ đồng năm 2013 về 0 đồng trong giai đoạn 2014–2017.
- Cơ cấu khách hàng: Tập trung tuyệt đối vào khu vực ngoài quốc doanh (chiếm trên 90% dư nợ hàng năm). Năm 2017, công ty TNHH chiếm 585,041 tỷ đồng (62,18%), công ty cổ phần chiếm 228,819 tỷ đồng (35,84%), trong khi doanh nghiệp quốc doanh chỉ còn 28,120 tỷ đồng. Tổng số lượng khách hàng tăng đều đặn từ 105 khách hàng (2013) lên 120 (2014), 226 (2015), 246 (2016) và đạt 263 khách hàng (2017).
- Cơ cấu nguồn vốn: Tổng nguồn vốn hoạt động sụt giảm từ 999 tỷ đồng (2013) xuống 901 tỷ đồng (2017). Vốn chủ sở hữu đạt 325 tỷ đồng năm 2017 (vốn điều lệ 300 tỷ đồng). Nguồn vốn huy động đạt 548 tỷ đồng, trong đó phụ thuộc lớn vào vốn vay từ các tổ chức tín dụng (đạt 442 tỷ đồng, chiếm phần lớn là vay từ ngân hàng mẹ ACB), còn vốn huy động từ khách hàng giảm dần từ 129 tỷ đồng (2013) xuống 106 tỷ đồng (2017).
- Kết quả kinh doanh và khả năng sinh lời: Tổng thu nhập giảm từ 122,665 tỷ đồng (2013) xuống 88,793 tỷ đồng (2017). Tỷ trọng chi phí trên thu nhập tăng từ 37,2% lên 81,62%, chủ yếu do chi phí lãi vay tăng (đạt 38,239 tỷ đồng năm 2017). Lợi nhuận sau thuế giảm từ 53,74 tỷ đồng (2013) xuống 13,05 tỷ đồng (2017); riêng năm 2014 giảm sâu xuống 8,46 tỷ đồng do chi phí dự phòng rủi ro tăng vọt lên 42,856 tỷ đồng khi nợ xấu phát sinh. Tỷ suất ROE sau thuế giảm từ 19,06% (2013) xuống 4,02% (2017); ROA sau thuế giảm từ 5,38% xuống 1,45%. So sánh năm 2017, khả năng sinh lời của ACB Leasing thấp hơn đáng kể so với Sacombank Leasing (ROE 14,05%, ROA 3,35%), VCB Leasing (ROE 8,79%, ROA 2,18%) và VietinBank Leasing (ROE 7,98%, ROA 3,97%).
- Mức độ rủi ro hoạt động: Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát từ mức đỉnh 4,68% (năm 2014) xuống còn 2,04% vào năm 2017. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) lại tăng từ 0,04% (2013) lên 0,65% (2017); tỷ lệ nợ cần chú ý (nhóm 2) năm 2017 ở mức 2,61%, cao hơn hẳn so với VCB Leasing (0,3%), VietinBank Leasing (1,08%) và Sacombank Leasing (1,16%).
Tác giả chỉ rõ các nguyên nhân: rào cản pháp lý từ quy định trần cấp tín dụng tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN (giới hạn tài trợ 25% vốn tự có cho một khách hàng và 50% cho khách hàng cùng người có liên quan); Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP hết văn bản căn cứ gây khó khăn trong thu hồi tài sản; quy mô vốn tự có nhỏ; chi phí huy động vốn cao do lệ thuộc lãi suất ngân hàng mẹ; và mạng lưới văn phòng chỉ bó hẹp tại hai thành phố lớn.
Chương 3: Khuyến nghị nâng cao hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chương 3 đề xuất định hướng phát triển của ACB Leasing là tiếp tục liên kết với các nhà cung cấp thiết bị uy tín, tận dụng tệp khách hàng của ACB và tư vấn giải pháp đổi mới công nghệ đồng bộ. Tác giả kiến nghị 6 nhóm giải pháp nội bộ đối với ACB Leasing:
- Phát triển nguồn vốn kinh doanh: Đẩy mạnh huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, phát hành giấy tờ có giá, giảm bớt tỷ lệ lệ thuộc vào vốn vay từ ngân hàng mẹ nhằm hạ giá thành huy động vốn.
- Nâng cao chất lượng quy trình cho thuê: Chuẩn hóa và rút ngắn thời gian thẩm định phương án kinh doanh, nâng cao chất lượng định giá tài sản thuê và tăng cường giám sát việc sử dụng tài sản sau giải ngân.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật thẩm định máy móc chuyên ngành, nâng cao kỹ năng thẩm định tài chính và giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tín dụng.
- Mở rộng quy mô khách hàng: Tăng cường tiếp cận cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, các đơn vị vận tải hàng hóa và hành khách; tận dụng mạng lưới chi nhánh rộng khắp của Ngân hàng Á Châu để bán chéo dịch vụ.
- Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ: Đẩy mạnh nghiệp vụ mua và cho thuê lại (tái cho thuê) nhằm tài trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp; triển khai hình thức cho thuê vận hành đối với các thiết bị công nghệ có tốc độ hao mòn vô hình nhanh.
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh: Định kỳ khảo sát mức phí, lãi suất và chính sách dịch vụ của các đối thủ mạnh (VCB Leasing, VietinBank Leasing, Sacombank Leasing, BSL) để điều chỉnh biên độ lãi suất cạnh tranh hơn.
Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị vĩ mô:
- Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Nới lỏng quy định giới hạn cấp tín dụng tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN phù hợp với đặc thù của công ty cho thuê tài chính; sớm ban hành văn bản thay thế Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP nhằm tạo hành lang pháp lý thông suốt cho việc thu hồi, xử lý tài sản khi khách hàng vi phạm hợp đồng; hoàn thiện chính sách thuế và đăng ký tài sản giao dịch.
- Đối với Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam: Tăng cường vai trò tuyên truyền, phổ biến lợi ích của dịch vụ cho thuê tài chính đến cộng đồng doanh nghiệp; thiết lập cơ sở dữ liệu dùng chung về thông tin khách hàng và giá cả máy móc thiết bị chuyên dùng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện chuỗi dữ liệu thực nghiệm 5 năm (2013–2017) của ACB Leasing, phản ánh rõ nét biến động tài chính của đơn vị trong tương quan với toàn ngành:
| Chỉ tiêu tài chính |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
| Dư nợ cho thuê tài chính (tỷ đồng) |
973,00 |
947,58 |
894,35 |
906,00 |
850,00 |
| Tốc độ tăng trưởng dư nợ (%) |
5,19 |
-2,61 |
-5,65 |
1,34 |
-6,18 |
| Thị phần trong Hiệp hội VILEA (%) |
6,62 |
6,80 |
8,90 |
9,80 |
9,88 |
| Tỷ trọng tài sản: Ô tô các loại (%) |
5,46 |
11,70 |
30,70 |
36,85 |
38,10 |
| Tỷ trọng tài sản: Máy móc thiết bị (%) |
61,85 |
59,12 |
48,21 |
42,71 |
40,43 |
| Số lượng khách hàng (khách hàng) |
105 |
120 |
226 |
246 |
263 |
| Nguồn vốn hoạt động (tỷ đồng) |
999,00 |
986,00 |
975,00 |
963,00 |
901,00 |
| Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng) |
53,74 |
8,46 |
30,44 |
20,72 |
13,05 |
| Tỷ suất sinh lời ROE (%) |
19,06 |
3,48 |
8,27 |
6,08 |
4,02 |
| Tỷ suất sinh lời ROA (%) |
5,38 |
0,86 |
3,12 |
2,15 |
1,45 |
| Tỷ lệ nợ xấu (%) |
0,04 |
4,68 |
3,38 |
2,81 |
2,04 |
| Tỷ lệ nợ nhóm 5 (%) |
0,04 |
0,19 |
0,02 |
0,24 |
0,65 |
So sánh chỉ tiêu hoạt động và an toàn vốn năm 2017 giữa các công ty cho thuê tài chính hàng đầu tại Việt Nam được tác giả tổng hợp cụ thể:
| Chỉ tiêu năm 2017 |
ACB Leasing |
VCB Leasing |
VietinBank Leasing |
Sacombank Leasing |
| Dư nợ CTTC (tỷ đồng) |
850,00 |
Dẫn đầu ngành |
Thuộc nhóm đầu |
1.591,00 |
| ROE sau thuế (%) |
4,02 |
8,79 |
7,98 |
14,05 |
| ROA sau thuế (%) |
1,45 |
2,18 |
3,97 |
3,35 |
| Tỷ lệ nợ nhóm 2 (%) |
2,61 |
0,30 |
1,08 |
1,16 |
| Tỷ lệ nợ xấu (%) |
2,04 |
1,07 |
1,24 |
1,18 |
| Trong đó: Nợ nhóm 5 (%) |
0,65 |
1,06 |
1,22 |
0,43 |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa việc gia tăng số lượng khách hàng (từ 105 lên 263 khách hàng) nhưng quy mô dư nợ lại suy giảm (-12,64%), đồng thời phân tích cụ thể sự chuyển hướng danh mục tài trợ sang phân khúc ô tô chở người và vận tải thương mại nhằm thích ứng với biến động thị trường. Hệ thống giải pháp đề xuất gắn liền với các bất cập thực tế của khung pháp lý (Thông tư 36/2014/TT-NHNN và Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP), cung cấp căn cứ tham khảo xác đáng cho công tác quản trị tại ACB Leasing.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản:
- Dữ liệu khảo sát dừng lại ở mốc thời gian năm 2017, chưa phản ánh được các tác động sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực cũng như các biến động kinh tế vĩ mô giai đoạn tiếp theo.
- Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các phương pháp phân tích tài chính mô tả và so sánh chỉ tiêu đơn lẻ, chưa ứng dụng mô hình định lượng kinh tế lượng nhằm kiểm định tác động tương hỗ giữa các biến số vĩ mô (lãi suất, lạm phát, tăng trưởng GDP) tới hành vi trả nợ và nhu cầu thuê tài chính của khách hàng.
- Nguồn số liệu so sánh ngành phụ thuộc vào báo cáo tổng hợp của Hiệp hội VILEA nên một số chỉ tiêu tài chính chi tiết của các đối thủ cạnh tranh chưa được công bố đồng đều.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng cập nhật số liệu chuỗi thời gian dài hơn; khảo sát định lượng trực tiếp về mức độ hài lòng và rào cản tiếp cận dịch vụ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với kênh cho thuê tài chính; hoặc nghiên cứu chuyên sâu về mô hình liên doanh cho thuê tài chính giữa ngân hàng trong nước và định chế tài chính quốc tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh và các nhà nghiên cứu quan tâm đến thị trường tín dụng phi ngân hàng. Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận chi tiết về các nghiệp vụ cho thuê tài chính đặc biệt (tái cho thuê, cho thuê giáp lưng, cho thuê hợp tác) cùng quy trình cấp tín dụng 9 bước tại một công ty tài chính thực tế. Đối với các cán bộ quản trị rủi ro và chuyên viên tín dụng tại các công ty cho thuê tài chính, phần phân tích chi tiết về cơ cấu tài sản, rủi ro nợ nhóm 2 và các vướng mắc trong thu hồi, xử lý tài sản cố định là nguồn tư liệu thực tiễn có giá trị ứng dụng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao thị phần của ACB Leasing tăng từ 6,62% lên 9,88% trong giai đoạn 2013–2017 dù dư nợ cho thuê giảm từ 973 tỷ xuống 850 tỷ đồng?
Thị phần của ACB Leasing tăng nghịch chiều với dư nợ do tổng dư nợ toàn ngành cho thuê tài chính của các thành viên trong Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam sụt giảm với tốc độ nhanh hơn nhiều so với tốc độ giảm của ACB Leasing. Nguyên nhân chính là giai đoạn 2016–2017, ba công ty lớn trong ngành gồm Vinashin Leasing, Agribank Leasing I và Agribank Leasing II phải thu hẹp hoạt động và tiến hành tái cơ cấu do rủi ro thua lỗ từ các khoản tài trợ tàu thuyền vận tải trước đó.
2. Cơ cấu tài sản cho thuê của ACB Leasing có sự thay đổi mang tính bước ngoặt nào trong giai đoạn 2013–2017?
Danh mục tài sản cho thuê chuyển dịch mạnh từ máy móc thiết bị sang phương tiện vận tải (ô tô các loại). Tỷ trọng dư nợ ô tô tăng vọt từ 5,46% (53,173 tỷ đồng năm 2013) lên 38,10% (323,850 tỷ đồng năm 2017) nhằm đón đầu sự bùng nổ của thị trường tiêu thụ xe cơ giới. Ngược lại, máy móc thiết bị giảm từ 61,85% xuống 40,43%, dây chuyền sản xuất giảm từ 28,70% xuống 16,94%, và tài sản tàu thuyền giảm hoàn toàn về 0% từ năm 2014.
3. Yếu tố nào khiến lợi nhuận sau thuế năm 2014 của ACB Leasing sụt giảm đột biến hơn 84% so với năm 2013?
Lợi nhuận sau thuế năm 2014 giảm từ 53,74 tỷ đồng xuống 8,46 tỷ đồng (giảm 84,25%) chủ yếu do chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng đột biến lên mức 42,856 tỷ đồng (chiếm 47,5% tổng chi phí hoạt động của năm), phát sinh do tỷ lệ nợ xấu của công ty tăng vọt lên mức đỉnh 4,68% (so với mức 0,04% của năm 2013).
4. Chất lượng tín dụng và mức độ rủi ro hoạt động của ACB Leasing năm 2017 so với các công ty cùng ngành như thế nào?
Năm 2017, dù tỷ lệ nợ xấu của ACB Leasing đã giảm về mức 2,04%, con số này vẫn cao hơn đáng kể so với các đối thủ như VCB Leasing (1,07%), VietinBank Leasing (1,24%) và Sacombank Leasing (1,18%). Đặc biệt, tỷ lệ nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) của ACB Leasing chiếm tới 2,61%, cao hơn nhiều so với VCB Leasing (0,3%) và Sacombank Leasing (1,16%). Ngoài ra, tỷ lệ nợ nhóm 5 của công ty có xu hướng tăng từ 0,02% (2015) lên 0,65% (2017).
5. Khóa luận chỉ ra rào cản pháp lý cụ thể nào từ quy định của Ngân hàng Nhà nước làm hạn chế quy mô giải ngân của ACB Leasing?
Đó là quy định tại Khoản 2, Điều 13, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Theo đó, toàn bộ các công ty cho thuê tài chính chỉ được phép tài trợ tối đa cho một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có; tổng mức tài trợ cho một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của công ty. Do quy mô vốn điều lệ của ACB Leasing chỉ ở mức 300 tỷ đồng, giới hạn này đã trực tiếp thu hẹp khả năng tài trợ các dự án mua sắm máy móc, dây chuyền thiết bị quy mô lớn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Như Quỳnh đã hoàn thành mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về cho thuê tài chính và phản ánh trung thực thực trạng hoạt động của ACB Leasing giai đoạn 2013–2017. Bằng chuỗi số liệu tài chính cụ thể, công trình làm rõ nghịch lý sụt giảm dư nợ nhưng gia tăng thị phần, sự chuyển dịch cơ cấu tài sản sang nhóm xe vận tải và những thách thức về kiểm soát chi phí huy động vốn cũng như rủi ro nợ nhóm 2. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất có tính liên kết chặt chẽ với những điểm nghẽn pháp lý và quản trị nội bộ được phát hiện, tạo tiền đề hữu ích cho việc hoàn thiện chính sách vận hành của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.