Luận văn: Đánh giá quản lý hồ sơ địa chính, CSDL đất đai ở TP. Đồng Hới

Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng công tác quản lý hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2015

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh hồ sơ địa chính và CSDL đất đai tại Đồng Hới

Hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai là nền tảng cốt lõi cho công tác quản lý đất đai Đồng Hới. Đây là công cụ giúp nhà nước nắm chắc quỹ đất, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thành phố Đồng Hới, được công nhận là đô thị loại II từ năm 2014, đang trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện hệ thống quản lý đất đai để đáp ứng nhu cầu phát triển. Một hệ thống hồ sơ địa chính chính xác và CSDL đất đai hiện đại không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn góp phần minh bạch thông tin đất đai, giảm thiểu tranh chấp và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh. Theo Luật Đất đai 2013, hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc số, thể hiện chi tiết về từng thửa đất. Việc chuyển đổi từ hồ sơ giấy sang hồ sơ số là một phần quan trọng trong lộ trình chuyển đổi số ngành tài nguyên môi trường. Quá trình này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng công nghệ thông tin địa chính và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tại Đồng Hới, công tác này do Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình và các đơn vị trực thuộc như Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Đồng Hới chịu trách nhiệm chính. Việc đánh giá đúng thực trạng sẽ là cơ sở để đề ra các giải pháp chiến lược, nâng cao hiệu quả quản lý, đưa hệ thống thông tin đất đai của thành phố tiệm cận với các tiêu chuẩn hiện đại, phục vụ tốt nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

1.1. Vai trò của hồ sơ địa chính trong quản lý nhà nước

Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng đất. Theo quy định, hồ sơ địa chính bao gồm bản đồ địa chính Đồng Hới, sổ mục kê đất đai, sổ địa chính và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các tài liệu này là cơ sở pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, giải quyết tranh chấp, và thực hiện các thủ tục hành chính đất đai. Một hệ thống hồ sơ đầy đủ, chính xác giúp chính quyền các cấp quản lý chặt chẽ quỹ đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiệu quả, và là công cụ quan trọng để tính toán các nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất đai. Giá trị pháp lý của hồ sơ địa chính được công nhận như nhau ở cả dạng giấy và dạng số, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi và quản lý đồng bộ.

1.2. Tầm quan trọng CSDL đất đai trong chuyển đổi số

CSDL đất đai là tập hợp dữ liệu được tổ chức để truy cập, quản lý và cập nhật qua phương tiện điện tử. Nó bao gồm cơ sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu quy hoạch, giá đất, và thống kê, kiểm kê. Việc xây dựng một CSDL đất đai tập trung, thống nhất là mục tiêu chiến lược, giúp tích hợp dữ liệu đất đai từ cấp xã đến trung ương. Hệ thống này cho phép tra cứu thông tin nhanh chóng, chính xác, phục vụ đa mục tiêu từ quản lý nhà nước đến nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số, CSDL đất đai là hạt nhân của hệ thống thông tin đất đai LIS, tạo nền tảng cho việc xây dựng chính quyền điện tử và đô thị thông minh. Việc quản lý CSDL đòi hỏi các giải pháp bảo mật chặt chẽ để đảm bảo an toàn, an ninh thông tin.

II. Thách thức trong quản lý hồ sơ địa chính Đồng Hới hiện nay

Công tác quản lý hồ sơ địa chính và CSDL đất đai tại Đồng Hới đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến hiện trạng sử dụng đất thay đổi liên tục, các giao dịch chuyển nhượng, tách, hợp thửa diễn ra phổ biến. Điều này tạo ra áp lực lớn lên việc cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai. Tuy nhiên, hệ thống hồ sơ địa chính tại nhiều khu vực vẫn còn tồn tại ở dạng giấy, được lập từ nhiều thời kỳ khác nhau với độ chính xác không đồng đều, gây khó khăn cho việc quản lý và tra cứu. Việc số hóa dữ liệu đất đai đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ, nhiều nơi vẫn sử dụng song song cả hồ sơ giấy và hồ sơ số, dẫn đến thiếu nhất quán. Theo tài liệu nghiên cứu, việc chuyển đổi từ hệ thống cũ sang các phần mềm hiện đại như hệ thống VILIS gặp nhiều trở ngại về kinh phí, nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin địa chính. Đội ngũ cán bộ tại một số xã, phường còn hạn chế về kỹ năng công nghệ, ảnh hưởng đến tiến độ cập nhật dữ liệu. Bên cạnh đó, khung pháp lý về hồ sơ địa chính dạng số vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, gây ra những lúng túng nhất định trong quá trình triển khai. Việc thiếu một CSDL tập trung, thống nhất khiến cho việc chia sẻ, tích hợp dữ liệu đất đai giữa các cơ quan liên quan như Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Đồng Hới và chính quyền cấp xã còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết các thủ tục hành chính đất đai.

2.1. Bất cập từ hệ thống bản đồ địa chính qua các thời kỳ

Hiện tại, trên địa bàn thành phố Đồng Hới vẫn còn tồn tại song song nhiều loại bản đồ địa chính được lập ở các thời kỳ khác nhau, như bản đồ 299 và bản đồ địa chính đo vẽ theo công nghệ số sau này. Bản đồ cũ thường có độ chính xác thấp, không còn phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế do các biến động chưa được cập nhật đầy đủ. Sự không thống nhất về hệ quy chiếu (HN-72 và VN-2000) và tỷ lệ bản đồ giữa các khu vực gây khó khăn trong việc tổng hợp, quản lý và xây dựng một cơ sở dữ liệu địa chính đồng bộ. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến công tác quản lý mà còn có thể dẫn đến sai sót trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp.

2.2. Khó khăn trong công tác cập nhật chỉnh lý biến động đất đai

Biến động đất đai tại Đồng Hới diễn ra thường xuyên do các hoạt động như chuyển nhượng, thừa kế, tách thửa, chuyển mục đích sử dụng, và thu hồi đất cho các dự án. Tuy nhiên, công tác cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai trên hồ sơ địa chính vẫn chưa theo kịp thực tế. Nguyên nhân chủ yếu là do quy trình còn phức tạp, thiếu kinh phí, và sự phối hợp chưa nhịp nhàng giữa người dân và cơ quan quản lý. Nhiều trường hợp biến động không được đăng ký kịp thời, khiến thông tin trong hồ sơ địa chính trở nên lạc hậu, gây khó khăn cho công tác thống kê, kiểm kê đất đai và làm giảm tính minh bạch thông tin đất đai.

III. Phương pháp đánh giá thực trạng hệ thống CSDL đất đai

Để có cái nhìn toàn diện về công tác quản lý đất đai Đồng Hới, việc đánh giá thực trạng được tiến hành dựa trên việc thu thập và phân tích số liệu thứ cấp và sơ cấp. Các tài liệu thứ cấp bao gồm báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố, và Chi cục Thống kê. Số liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp cán bộ địa chính tại 16 xã, phường và phân tích các thành phần của hồ sơ địa chính hiện có. Quá trình đánh giá tập trung vào bốn thành phần chính của CSDL đất đai: cơ sở dữ liệu địa chính, quy hoạch sử dụng đất, giá đất, và thống kê, kiểm kê. Việc phân tích cơ sở dữ liệu địa chính xem xét mức độ hoàn thiện của bản đồ địa chính Đồng Hới dạng số và tình hình cập nhật thông tin thuộc tính. Đối với CSDL quy hoạch, việc đánh giá dựa trên sự phù hợp giữa quy hoạch đã duyệt và hiện trạng sử dụng đất. CSDL giá đất được xem xét dựa trên mức độ sát thực tế của bảng giá do UBND tỉnh ban hành. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ và trang thiết bị, tức là hạ tầng công nghệ thông tin địa chính, để xác định các điểm nghẽn và thuận lợi trong quá trình vận hành.

3.1. Phân tích cơ sở dữ liệu địa chính và sổ sách liên quan

Thực trạng cho thấy, cơ sở dữ liệu địa chính của Đồng Hới đang trong giai đoạn chuyển đổi. Nhiều xã đã triển khai hồ sơ địa chính dạng số nhưng chưa hoàn chỉnh và đồng bộ. Dữ liệu không gian từ bản đồ địa chính Đồng Hới và dữ liệu thuộc tính từ sổ địa chính, sổ mục kê chưa được liên kết chặt chẽ. Theo nghiên cứu, đến năm 2015, mới chỉ có 15/23 xã thực hiện hồ sơ số theo phần mềm VILIS 2.0. Tình trạng này cho thấy sự thiếu thống nhất trong công nghệ và quy trình, là một rào cản lớn cho việc xây dựng một hệ thống thông tin đất đai LIS hoàn chỉnh.

3.2. Rà soát CSDL quy hoạch sử dụng đất và giá đất

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được thực hiện ở các cấp, tuy nhiên CSDL quy hoạch chưa được số hóa và tích hợp đầy đủ. Việc tra cứu thông tin quy hoạch vẫn còn phụ thuộc nhiều vào hồ sơ giấy. Tương tự, CSDL giá đất chủ yếu dựa trên bảng giá đất do tỉnh ban hành định kỳ, chưa phản ánh kịp thời các biến động của thị trường. Điều này gây khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất. Việc xây dựng một CSDL giá đất và quy hoạch động, dễ truy cập là yêu cầu cấp thiết.

3.3. Thực trạng nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin

Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù đã có sự đầu tư, hạ tầng công nghệ thông tin địa chính tại các cơ quan quản lý đất đai cấp thành phố và cấp xã vẫn còn hạn chế. Máy móc, thiết bị chưa được nâng cấp đồng bộ. Trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ địa chính xã, phường chưa đáp ứng được yêu cầu của việc vận hành các phần mềm quản lý hiện đại như hệ thống VILIS. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm chậm tiến trình số hóa dữ liệu đất đai và xây dựng CSDL thống nhất.

IV. 3 Giải pháp hoàn thiện hồ sơ địa chính CSDL đất đai

Dựa trên phân tích thực trạng, việc hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính và CSDL đất đai tại Đồng Hới cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chiến lược. Thứ nhất, cần đẩy nhanh quá trình thiết lập và hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính dạng số một cách thống nhất trên toàn thành phố. Giải pháp này bao gồm việc đo đạc, chỉnh lý và hoàn thiện bản đồ địa chính Đồng Hới, đồng thời số hóa dữ liệu đất đai từ các loại sổ sách cũ, đảm bảo tính nhất quán và chính xác. Thứ hai, nâng cao trình độ chuyên môn và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về vận hành hệ thống VILIS và các phần mềm liên quan, cập nhật các quy định mới trong khung pháp lý về hồ sơ địa chính. Thứ ba, tin học hóa toàn diện và tích hợp dữ liệu đất đai. Giải pháp này đòi hỏi đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin địa chính, xây dựng mạng lưới kết nối thông suốt từ cấp xã đến Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra một hệ thống thông tin đất đai LIS hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất đai Đồng Hới, đảm bảo minh bạch thông tin đất đai và phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp.

4.1. Thiết lập và hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính dạng số

Ưu tiên hàng đầu là hoàn thành việc đo đạc, lập mới hoặc chỉnh lý bản đồ địa chính trên toàn địa bàn theo một tiêu chuẩn kỹ thuật duy nhất (hệ tọa độ VN-2000). Song song đó, cần tiến hành quét và số hóa dữ liệu đất đai từ các hồ sơ giấy cũ như sổ địa chính, sổ mục kê, và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ dữ liệu sau khi số hóa phải được chuẩn hóa và nhập vào cơ sở dữ liệu địa chính thống nhất, quản lý bằng phần mềm chuyên dụng được Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép, nhằm đảm bảo sự tương thích và khả năng trao đổi thông tin.

4.2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ quản lý

Con người là yếu tố quyết định. Cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ địa chính các cấp, đặc biệt là cấp xã, phường. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng sử dụng thành thạo các công cụ công nghệ thông tin, phần mềm quản lý CSDL, và quy trình cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai trên môi trường số. Đồng thời, cần nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ để đảm bảo dữ liệu được quản lý một cách chính xác, an toàn và bảo mật.

4.3. Tin học hóa và tích hợp dữ liệu đất đai với VILIS

Giải pháp cốt lõi là triển khai đồng bộ hệ thống VILIS hoặc các phần mềm tương đương trên toàn thành phố. Cần đầu tư nâng cấp hệ thống máy chủ, máy trạm và mạng LAN/WAN, đảm bảo đường truyền ổn định. Mục tiêu là xây dựng một CSDL tập trung, cho phép tích hợp dữ liệu đất đai từ nhiều nguồn (địa chính, quy hoạch, giá đất, thuế) và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan. Việc này sẽ tối ưu hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính đất đai, giảm thời gian chờ đợi cho người dân và là bước đi quan trọng trong lộ trình chuyển đổi số ngành tài nguyên môi trường.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm đất đai Theo Brinkman và Smyth: “đất đai là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật, động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và tương lai”.

Đất thuộc tài nguyên phục hồi, tài nguyên đất được hiểu theo quan điểm kinh tế học (Đất đai = Lands) và quan điểm phát sinh học thổ nhưỡng (Đất = Soils) theo quan điểm này đất (Soils) là thể tự nhiên đặc biệt, hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tố: đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật, thời gian và tác động của con người. Đây là định nghĩa của nhà thổ nhưỡng học lỗi lạc người Nga V. Tuy nhiên đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là “diện tích có thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường sá, nhà cửa,. Đối với Việt Nam, từ 01/7/2004 theo quy định của Luật đất đai 2003, đất đai được chia thành 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng [18].

Luật đất đai năm 2013 của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất [14]. Vai trò của nhà nước trong công tác quản lý về đất đai Đất đai là một thị trường có giá trị lớn và luôn biến động cùng với quá trình phát triển kinh tế, xã hội do đó công tác quản lý nhà nước về đất đai càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Trên thế giới hiện nay đất đai đang tồn tại các quan hệ sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu tư nhân chiếm đại đa số các quốc gia.

Ở nước ta, tồn tại một hình thức sở hữu PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 đất đai duy nhất đó là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thực hiện nhiệm vụ thống nhất nhà nước về đất đai. Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc Nhà nước trao cho quyền sử dụng đất. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình bằng việc xác lập các chế độ pháp lý nhằm quản lý và sử dụng một cách hiệu quả phù hợp với những đặc điểm của đất nước. Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.

Theo Điều 22, Luật Đất đai năm 2013 thì nội dung quản lý nhà nước về đất đai gồm có các nội dung: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó; Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất, điều tra xây dựng giá đất; Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thống kê, kiểm kê đất đai; Xây dựng hệ thống thông tin đất đai; Quản lý tài chính về đất đai và giá đất; Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai; Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1. Các quy định về hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai 1. Khái niệm, thành phần, nội dung hồ sơ địa chính a) Khái niệm Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan [6].

Hồ sơ địa chính phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng đất do đó được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người sử dụng đất theo từng đơn vị hành chính cấp xã. Việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính phải theo đúng trình tự, thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật đất đai. Nội dung thông tin trong hồ sơ địa chính phải bảo đảm thống nhất với Giấy chứng nhận được cấp (nếu có) và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất. Tại Điều 96 Luật Đất đai năm 2013 quy định hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông tin chi tiết về từng thửa đất, người được giao quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, các quyền và thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính và việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; lộ trình chuyển đổi hồ sơ địa chính dạng giấy sang hồ sơ địa chính dạng số. b) Thành phần hồ sơ địa chính: Theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính thì hồ sơ địa chính được lập dưới dạng số và lưu trong cơ sở dữ liệu đất đai, gồm có các tài liệu đó là tài liệu điều tra đo đạc địa chính gồm bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai; Sổ địa chính và bản lưu Giấy chứng nhận. Trong đó: Bản đồ địa chính là thành phần của hồ sơ địa chính; thể hiện vị trí, ranh giới, diện tích các thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất; được lập để đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận và các nội dung khác của quản lý nhà nước về đất đai. Sổ mục kê đất đai là sản phẩm của việc điều tra, đo đạc địa chính, để tổng hợp các thông tin thuộc tính của thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất gồm: Số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, diện tích, loại đất, tên người sử dụng đất và người được giao quản lý đất để phục vụ yêu cầu quản lý đất đai.

PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Sổ địa chính được lập để ghi nhận kết quả đăng ký, làm cơ sở để xác định tình trạng pháp lý và giám sát, bảo hộ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được Nhà nước giao quản lý đất theo quy định của pháp luật đất đai. Bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Bản lưu Giấy chứng nhận dạng số được quét từ bản gốc Giấy chứng nhận trước khi trao cho người sử dụng đất để lưu trong cơ sở dữ liệu địa chính. Địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thì lập hệ thống bản lưu Giấy chứng nhận ở dạng giấy, bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản màu trắng) được cơ quan có thẩm quyền ký để lưu theo quy định tại QĐ số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 và QĐ số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (bản màu xanh) được cơ quan có thẩm quyền ký để lưu theo quy định tại Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được sao để lưu theo quy định tại Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT và Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do người sử dụng đất nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động được sao theo hình thức sao y bản chính, đóng dấu của cơ quan đăng ký đất đai tại trang 1 của bản sao Giấy chứng nhận để lưu [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ