Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi giữ vị trí trọng yếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP và cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu. Tuy nhiên, cùng với xu thế phát triển quy mô trang trại tập trung và gia tăng mật độ vật nuôi, lượng chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi đang gây áp lực nghiêm trọng lên môi trường. Theo các báo cáo thống kê, mỗi năm ngành chăn nuôi cả nước thải ra trên 73 triệu tấn chất thải rắn và khoảng 25–30 triệu $\text{m}^3$ chất thải lỏng; trong đó có tới 50% chất thải rắn và 80% chất thải lỏng bị xả thẳng ra môi trường tự nhiên mà không qua xử lý đạt chuẩn. Nước thải chăn nuôi chứa hàm lượng hợp chất hữu cơ rất cao (chiếm 70%–80%), giàu dưỡng chất nitơ, phospho, hàm lượng chất rắn lơ lửng lớn và mật độ vi sinh vật gây bệnh (như Salmonella, Shigella, trứng giun sán) cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép.

Hệ thống khí sinh học (hầm biogas) hiện là giải pháp xử lý kỵ khí phổ biến nhất tại các nông hộ và trang trại, giúp thu hồi khí mêtan ($\text{CH}_4$) phục vụ đun nấu, thắp sáng và giảm thiểu một phần chất hữu cơ. Dù vậy, nước thải sau khi qua hầm biogas vẫn còn nồng độ $\text{BOD}_5$, $\text{COD}$, $\text{T-N}$, $\text{T-P}$ ở mức cao, kèm theo màu xanh đen và mùi hôi thối đặc trưng. Việc áp dụng các công nghệ xử lý hóa lý hoặc kỹ thuật phức tạp đòi hỏi chi phí đầu tư, lắp đặt và vận hành lớn, vượt quá năng lực tài chính của đa số hộ chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ. Do đó, việc ứng dụng các hệ thực vật thủy sinh sẵn có tại địa phương để hấp thụ chất dinh dưỡng khoáng và phân hủy sinh học chất ô nhiễm là hướng tiếp cận chi phí thấp, thân thiện với môi trường và phù hợp điều kiện thực tế.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Tiến hành kiểm tra các thành phần ô nhiễm có trong nước thải chăn nuôi trước khi xử lý, sau đó sử dụng mô hình thí nghiệm để kiểm tra khả năng xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh.
    2. Đánh giá khả năng xử lý nước thải chăn nuôi sau biogas bằng thực vật thủy sinh như cây rau dừa nước và cây bèo cái.
    3. Đề xuất ứng dụng quy trình công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi hiện nay bằng thực vật thủy sinh đáp ứng tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam.
  • Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
    1. Dựa vào tài liệu sẵn có và thông tin đã biết để tìm hiểu về thuộc tính xử lý nước thải của thực vật thủy sinh.
    2. Tiến hành kiểm tra chất lượng nước trước khi xử lý, sau đó sử dụng mô hình thí nghiệm tiến hành kiểm tra khả năng xử lý nước thải của mô hình.
    3. Tiến hành kiểm tra các giá trị như $\text{pH}$, $\text{BOD}_5$, $\text{COD}$, Nitơ tổng, Phospho tổng để kiểm chứng hiệu quả xử lý đối với các chỉ tiêu này của mô hình.
    4. Bảo đảm phương pháp và số liệu phân tích chính xác, khách quan, trung thực.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải chăn nuôi lợn sau xử lý yếm khí (sau hệ thống hầm biogas).
    • Phạm vi nghiên cứu: Khả năng xử lý các chỉ tiêu ô nhiễm của cây rau dừa nước và cây bèo cái.
    • Địa điểm nghiên cứu: Xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
    • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 05 năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung pháp lý

Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý luận về xử lý nước thải sinh học và các căn cứ pháp lý hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Khung pháp lý và quy chuẩn: Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 (được Quốc hội thông qua ngày 23/06/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015); Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B); Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 678:2006 (Loại B); Nghị quyết số 03/NQ-TU của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc và Quyết định số 38, 39 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về cơ chế hỗ trợ phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường.
  • Cơ sở khoa học về xử lý sinh học:
    • Phương pháp kỵ khí: Phân hủy chất hữu cơ phức tạp trong điều kiện không có oxy tạo thành $\text{CH}_4$ và $\text{CO}_2$ (qua các công trình: bể Biogas, hồ kỵ khí, bể lọc sinh học kỵ khí, bể phản ứng kỵ khí ngược dòng UASB).
    • Phương pháp hiếu khí: Quá trình khoáng hóa chất hữu cơ, tổng hợp tế bào mới và phân hủy nội bào nhờ vi sinh vật hiếu khí (bể Aerotank, lọc sinh học hiếu khí, hồ sinh học).
    • Phương pháp hiếu khí – thiếu khí kết hợp: Ứng dụng quá trình nitrit hóa/nitrat hóa (trong điều kiện hiếu khí bởi vi khuẩn Nitrosomonas, Nitrobacter) và phản nitrat hóa (trong điều kiện thiếu khí chuyển $\text{NO}_3^-$ thành $\text{N}_2$) qua mương oxy hóa Pasveer, bể phản ứng theo mẻ SBR hoặc bể lọc sinh học ngập nước.
    • Cơ chế xử lý bằng thực vật thủy sinh: Sự phối hợp giữa thực vật thủy sinh và màng vi sinh vật bám dính trên hệ thống rễ. Vi sinh vật phân giải các hợp chất hữu cơ thành dạng khoáng vô cơ ($\text{NH}_4^+$, $\text{NO}_3^-$, $\text{PO}_4^{3-}$), tạo nguồn dinh dưỡng để thực vật hấp thụ phục vụ quá trình tổng hợp sinh khối, đồng thời hệ rễ giữ lại chất rắn lơ lửng và giảm thiểu mùi hôi.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Khóa luận phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, điều kiện địa hình, báo cáo phát triển kinh tế – xã hội xã Liên Châu và các tài liệu chuyên ngành về quản lý chất thải chăn nuôi.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Khảo sát hiện trạng chuồng trại, nguồn thải và thực trạng vận hành hầm biogas tại các hộ chăn nuôi trên địa bàn xã Liên Châu.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm:
    • Kiểu thí nghiệm: Bán tự nhiên, bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn ngoài trời (có hệ thống che phủ khi có mưa lớn bất thường).
    • Quy cách thiết bị: Sử dụng các thùng nhựa dẻo có cùng thể tích và kích thước (đường kính 35 cm, chiều cao 55 cm), xử lý cùng một thể tích nước thải sau biogas. Mực nước tưới vào duy trì cao hơn bề mặt lớp vật liệu 2 cm.
    • Công thức thí nghiệm:
      • CT1: Đối chứng (không trồng cây).
      • CT2: Trồng cây rau dừa nước.
      • CT3: Trồng cây bèo cái.
  • Phương pháp lấy mẫu: Mẫu được lấy vào buổi sáng (khoảng 7–8 giờ), dùng chai nhựa sạch tráng nước cất nhúng ngập cách mặt nước 2–3 cm, dung tích 0,5 lít/mẫu tại 4 thời điểm:
    • Lần 1: Trước khi xử lý (1 mẫu nước thải sau biogas ban đầu).
    • Lần 2: Sau 5 ngày vận hành thí nghiệm (3 mẫu tương ứng 3 công thức).
    • Lần 3: Sau 10 ngày vận hành thí nghiệm (3 mẫu tương ứng 3 công thức).
    • Lần 4: Sau 15 ngày vận hành thí nghiệm (3 mẫu tương ứng 3 công thức).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • Chỉ tiêu $\text{pH}$: Đo trực tiếp bằng máy đo điện tử Hanna (Italia).
    • Chỉ tiêu $\text{COD}$: Phân tích bằng phương pháp chuẩn độ oxy hóa với thuốc tím ($\text{KMnO}_4$).
    • Chỉ tiêu $\text{BOD}_5$: Phân tích bằng phương pháp cấy vi sinh vật và pha loãng mẫu.
    • Chỉ tiêu Tổng Nitơ (T-N) và Tổng Phospho (T-P): Phân tích bằng phương pháp so màu quang phổ.
    • Chỉ tiêu cảm quan: Đánh giá định tính về màu sắc và mùi của nước thải.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, tính toán hiệu suất xử lý $H (%)$ bằng phần mềm Microsoft Excel và so sánh trực tiếp với giới hạn quy định tại QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc tìm kiếm giải pháp xử lý nước thải sau biogas chi phí thấp bằng hệ thực vật thủy sinh trong bối cảnh chăn nuôi nông hộ tại Việt Nam còn hạn chế về nguồn vốn đầu tư công nghệ cao. Xác lập rõ ràng mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian (xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc), thời gian thực hiện (tháng 01/2015 – 05/2015) và ý nghĩa khoa học – thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo vệ môi trường nông thôn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn về chất thải chăn nuôi:

  • Đặc điểm chất thải chăn nuôi: Phân tích lượng phân thải hằng ngày theo thể trọng vật nuôi (bò sữa 7%–8%, bò thịt 5%–8%, lợn 6%–7%, gà 5%); tính chất nước thải chăn nuôi lợn có tỷ lệ pha loãng nước rửa chuồng từ 20–49 kg nước/1 kg phân; hàm lượng chất hữu cơ chiếm 70%–80%, hàm lượng N-tổng dao động từ 571–1026 mg/l, P-tổng từ 39–94 mg/l; các chủng vi khuẩn gây bệnh (Salmonella, Shigella, Proteus, Arizona) và ký sinh trùng (Fasciola hepatica, Fasciolopsis buski).
  • Thực trạng chăn nuôi và xử lý chất thải: Toàn quốc có 20.065 trang trại (năm 2011), tổng đàn lợn đạt 27,8 triệu con với hơn 4,13 triệu hộ chăn nuôi. Tỷ lệ hộ có công trình khí sinh học chỉ đạt 8,7% và chỉ 0,6% hộ có cam kết bảo vệ môi trường; 37,2% hộ chăn nuôi thâm canh không có biện pháp xử lý chất thải.
  • Đánh giá các công nghệ xử lý: Phân tích nguyên lý, ưu điểm và nhược điểm của công nghệ kỵ khí (Biogas, hồ kỵ khí, bể UASB, bể lọc kỵ khí), công nghệ hiếu khí (Aerotank, lọc sinh học hiếu khí, hồ sinh học), công nghệ kết hợp hiếu khí – thiếu khí (mương oxy hóa Pasveer, bể SBR, lọc sinh học ngập nước) và cơ chế xử lý bằng thực vật thủy sinh. Chỉ ra rằng hiệu suất xử lý của hầm biogas chỉ đạt khoảng 60%, nước thải sau biogas vẫn vượt tiêu chuẩn xả thải và bắt buộc phải qua khâu xử lý thứ cấp.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chi tiết hóa phương pháp tiếp cận thực nghiệm tại xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc:

  • Mô tả đối tượng nghiên cứu là nước thải sau hệ thống hầm biogas.
  • Thiết kế mô hình thí nghiệm bán tự nhiên với 3 công thức xử lý trong thùng nhựa dẻo kích thước 35x55 cm (CT1: đối chứng, CT2: rau dừa nước, CT3: bèo cái).
  • Xây dựng quy trình theo dõi, chăm sóc cây, kiểm soát mực nước ngập cao hơn bề mặt 2 cm, lấy mẫu định kỳ 4 đợt (ngày 0, ngày 5, ngày 10, ngày 15).
  • Quy định thiết bị và hóa chất phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm ($\text{pH}$ đo bằng máy Hanna, $\text{COD}$ bằng $\text{KMnO}_4$, $\text{BOD}_5$ bằng cấy pha loãng, T-N và T-P bằng so màu).

Phần 4: Kết quả đạt được

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội xã Liên Châu: Vị trí nằm phía Nam huyện Yên Lạc, địa hình đồng bằng bằng phẳng ven đê tả ngạn sông Hồng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 25,5–27,5°C, lượng mưa trung bình 1700–1720 mm/năm, độ ẩm không khí 83%. Cơ cấu kinh tế năm 2010 gồm nông nghiệp chiếm 29,23%, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng chiếm 26,25%, thương mại – dịch vụ chiếm 44,25%. Năm 2014, đàn lợn của xã đạt 2.107 con (199 lợn nái, sản lượng thịt 420 tấn), đàn trâu bò có 890 con, gia cầm đạt 120 tấn. Toàn bộ chất thải rắn và lỏng hòa lẫn được dẫn vào hầm biogas gia đình.
  • Đặc trưng nguồn nước thải sau biogas tại địa phương: Nước thải sau biogas có màu xanh đen, mùi hôi; $\text{pH}$ đạt 7,67; nồng độ $\text{BOD}_5$ là 268,7 mg/l; nồng độ $\text{COD}$ là 323,7 mg/l; hàm lượng Tổng Nitơ (T-N) là 147,6 mg/l; hàm lượng Tổng Phospho (T-P) là 5,798 mg/l. So với QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B), các thông số $\text{BOD}_5$, $\text{COD}$ và T-N đều vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần, chỉ có $\text{pH}$ và T-P nằm trong ngưỡng cho phép.

Kết quả và đóng góp

Kết quả phân tích chất lượng nước thải sau Biogas

Kết quả đo đạc và phân tích chất lượng nước thải chăn nuôi sau hệ thống biogas tại xã Liên Châu cho thấy tính chất ô nhiễm vật lý và hóa học thể hiện qua bảng sau:

STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả nước thải sau Biogas QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B) So sánh với quy chuẩn
1 Màu sắc - Xanh đen - Cảm quan không đạt
2 Mùi - Hôi Không có mùi Không đạt
3 $\text{pH}$ - 7,67 5,5 – 9,0 Đạt quy chuẩn
4 $\text{BOD}_5$ mg/l 268,7 50 Vượt 5,37 lần
5 $\text{COD}$ mg/l 323,7 150 Vượt 2,16 lần
6 Tổng Nitơ (T-N) mg/l 147,6 40 Vượt 3,69 lần
7 Tổng Phospho (T-P) mg/l 5,798 6 Đạt quy chuẩn

Đóng góp và giải pháp đề xuất của tác giả

  • Đóng góp về mặt dữ liệu thực tiễn: Khóa luận cung cấp tập số liệu định lượng minh chứng rằng hầm biogas không phải là giải pháp xử lý triệt để nước thải chăn nuôi; nước thải sau biogas vẫn còn nồng độ chất hữu cơ và nitơ hòa tan rất cao, chưa đủ điều kiện xả trực tiếp vào hệ thống kênh mương thủy lợi nông nghiệp.
  • Đóng góp về quy trình công nghệ: Đề xuất mô hình xử lý bổ sung bằng thực vật thủy sinh (rau dừa nước và bèo cái) đặt nối tiếp sau hầm biogas. Giải pháp này tận dụng khả năng hấp thụ khoáng của hệ thực vật thủy sinh bản địa, giảm thiểu phát thải khí độc, hạn chế ô nhiễm phú dưỡng hóa tại các vùng nông thôn.
  • Giải pháp quản lý và chuyển giao: Đề nghị chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở TN&MT) tăng cường tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn các hộ gia đình xây dựng hệ thống ao/bể thực vật thủy sinh sau hầm biogas, kết hợp quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung cách xa khu dân cư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Mô hình thí nghiệm được thiết lập ở quy mô bán tự nhiên trong thùng nhựa (kích thước 35x55 cm) tại một địa bàn nghiên cứu cụ thể (xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc), chưa triển khai thử nghiệm trên hệ thống ao hồ sinh học quy mô thực địa lớn.
  • Thời gian nghiên cứu tập trung trong 5 tháng (từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2015), chưa theo dõi sự biến động hiệu quả xử lý của thực vật thủy sinh qua các điều kiện thời tiết khác nhau giữa mùa mưa và mùa khô.
  • Khóa luận tập trung phân tích 5 thông số hóa lý cốt lõi ($\text{pH}$, $\text{BOD}_5$, $\text{COD}$, T-N, T-P) và cảm quan; chưa mở rộng đánh giá định lượng đối với mật độ vi sinh vật chỉ thị ô nhiễm phân (Coliform, E. coli) và dư lượng kim loại nặng trong nước thải.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu áp dụng mô hình bãi lọc trồng cây nhân tạo dòng chảy ngập (constructed wetland) kết hợp đa loài thực vật thủy sinh tại các trang trại quy mô công nghiệp.
  • Nghiên cứu chu kỳ cắt tỉa, thu hoạch và giải pháp tái sử dụng sinh khối thực vật thủy sinh sau xử lý (chế biến phân compost hữu cơ, làm thức ăn bổ sung cho gia súc hoặc tiếp tục ủ biogas) nhằm tránh ô nhiễm thứ cấp khi thực vật chết và phân hủy trong nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Sinh viên và học viên: Các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên Môi trường và Chăn nuôi – Thú y có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận bố trí thí nghiệm xử lý nước thải sinh học bán tự nhiên và quy trình phân tích các chỉ tiêu môi trường.
    • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã/huyện: Tham khảo dữ liệu thực trạng phát sinh chất thải chăn nuôi và hiệu quả của hầm biogas để xây dựng các chính sách quản lý, tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới.
    • Chủ trang trại và hộ chăn nuôi: Tham khảo phương pháp xây dựng các bể lọc sinh học bằng bèo cái và rau dừa nước sau hầm biogas với chi phí thấp, tận dụng nguồn cây có sẵn để làm sạch nước xả thải.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Phần tổng quan các phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi (kỵ khí, hiếu khí, mương oxy hóa, bể SBR, bể lọc ngập nước) và bảng số liệu kiểm tra thực tế nước thải sau biogas tại địa bàn nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Nước thải sau hầm biogas tại xã Liên Châu có đạt chuẩn xả thải theo quy chuẩn môi trường không?

Không. Kết quả phân tích cho thấy nước thải sau biogas tại xã Liên Châu có màu xanh đen, mùi hôi và 3 chỉ tiêu hóa lý quan trọng vượt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B): $\text{BOD}_5$ đạt 268,7 mg/l (vượt 5,37 lần so với giới hạn 50 mg/l), $\text{COD}$ đạt 323,7 mg/l (vượt 2,16 lần so với giới hạn 150 mg/l) và Tổng Nitơ (T-N) đạt 147,6 mg/l (vượt 3,69 lần so với giới hạn 40 mg/l). Chỉ có $\text{pH}$ (7,67) và Tổng Phospho (5,798 mg/l) đạt quy chuẩn.

2. Hai loài thực vật thủy sinh nào được tác giả lựa chọn để nghiên cứu xử lý nước thải?

Khóa luận lựa chọn hai loài thực vật thủy sinh là cây rau dừa nước (công thức thí nghiệm CT2) và cây bèo cái (công thức thí nghiệm CT3), được bố trí so sánh với công thức đối chứng không trồng cây (CT1).

3. Quy cách bố trí mô hình và các mốc thời gian lấy mẫu thí nghiệm được thiết kế như thế nào?

Mô hình thí nghiệm được thiết kế dạng bán tự nhiên đặt ngoài trời, sử dụng các thùng nhựa dẻo có cùng kích thước (đường kính 35 cm, chiều cao 55 cm), chứa cùng một thể tích nước thải và mực nước duy trì ngập cao hơn bề mặt 2 cm. Mẫu nước được lấy vào buổi sáng (7–8 giờ) tại 4 mốc thời gian: Lần 1 (trước xử lý - ngày 0), Lần 2 (sau 5 ngày), Lần 3 (sau 10 ngày) và Lần 4 (sau 15 ngày).

4. Tác giả sử dụng các phương pháp phân tích nào cho các chỉ tiêu hóa lý trong phòng thí nghiệm?

Tác giả sử dụng máy đo điện tử Hanna (Italia) để đo $\text{pH}$; phương pháp cấy vi sinh và pha loãng để phân tích $\text{BOD}_5$; phương pháp chuẩn độ bằng chất oxy hóa $\text{KMnO}_4$ để xác định $\text{COD}$; phương pháp so màu quang phổ để phân tích hàm lượng Tổng Nitơ (T-N) và Tổng Phospho (T-P).

5. Thực trạng đàn gia súc và hạ tầng hầm biogas trên địa bàn xã Liên Châu tại thời điểm nghiên cứu ra sao?

Năm 2014, xã Liên Châu có đàn lợn 2.107 con (gồm 199 lợn nái, sản lượng thịt hơi thương phẩm đạt 420 tấn, lợn sữa 55 tấn) và đàn trâu bò có 890 con. Toàn bộ chất thải chuồng trại được hòa lẫn và dẫn vào các hầm biogas gia đình, tuy nhiên nước thải đầu ra của các hầm biogas này chưa qua xử lý triệt để đã xả trực tiếp ra hệ thống kênh mương địa phương.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Hải Lý đã đánh giá cụ thể hiện trạng ô nhiễm nước thải chăn nuôi sau hệ thống biogas tại xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ ra sự tồn lưu nghiêm trọng của các chỉ tiêu $\text{BOD}_5$, $\text{COD}$ và Nitơ tổng vượt giới hạn quy định tại QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B). Bằng việc thiết kế mô hình thí nghiệm bán tự nhiên với cây rau dừa nước và cây bèo cái, nghiên cứu đã xây dựng cơ sở khoa học và thực nghiệm cho giải pháp làm sạch nước thải thứ cấp thân thiện với môi trường và có chi phí thấp. Đề tài đóng góp một giải pháp xử lý sinh học thiết thực, phù hợp với năng lực quản lý và điều kiện kinh tế của các nông hộ chăn nuôi tại khu vực nông thôn Việt Nam.