Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.Trên thế giới 1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ Trước đây, người ta coi gỗ là sản phẩm chính của rừng, còn các lâm sản khác như song, mây, dầu, nhựa, sợi, lương thực, thực phẩm, dược liệu v. do có khối lượng nhỏ lại ít được khai thác, nên thường coi là sản phẩm phụ của rừng.
Người ta gọi chúng là lâm sản phụ (minor forest products) hoặc đặc sản rừng (special forest products). Trong những thập kỷ gần đây, rừng bị tàn phá mạnh, gỗ trở nên hiếm và sử dụng ít dần, nhiều nguyên liệu khác như kim loại và các chất tổng hợp dần dần thay thế gỗ trong công nghiệp và các ngành khác. Trong khi đó các "Lâm sản phụ" được sử dụng ngày càng nhiều hơn và với những chức năng đa dạng hơn. Một số nghiên cứu gần đây đó cho thấy nếu được quản lý tốt thì nguồn lợi từ “Lâm sản phụ” hoàn toàn không nhỏ, đôi khi còn lớn hơn cả gỗ.
Vì vậy, để khẳng định vai trò của các "Lâm sản phụ" người ta đó sử dụng một thuật ngữ mới thay cho nó là "Lâm sản ngoài gỗ" ("Non- timber forest products" hay "Non-wood forest products"). Các nhà khoa học đã đưa ra những khái niệm khác nhau về lâm sản ngoài gỗ. de Beer (1992)[39] “Lâm sản ngoài gỗ được hiểu là toàn bộ động vật, thực vật và những sản phẩm khác ngoài gỗ của rừng được con người khai thác và sử dụng”. Năm (1994)[48], trong hội nghị các chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan đã thông qua khái niệm về lâm sản ngoài gỗ như sau: "Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than.
Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ. Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các lâm sản ngoài gỗ". Để có một khái niệm chung và thống nhất, hội nghị do tổ chức Nông lương thế giới tổ chức vào tháng 6/1999 đã đưa ra khái niệm về lâm sản ngoài n 4 gỗ như sau: "Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân gỗ". Sau nhiều năm nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ Jenne.
de Beer (1992)[39] đó bổ sung khái niệm lâm sản ngoài gỗ. Theo ông "Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi". Theo khái niệm này của Jenne.
de Beer là đơn giản, dễ sử dụng nhưng khác với hầu hết các khái niệm trước đây là ông đã đưa củi vào nhóm lâm sản ngoài gỗ. Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ - Về tính đa dạng của lâm sản ngoài gỗ: Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loài thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ. Khi nghiên cứu sự đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có 223 loài làm thức ăn. Để thuận tiện cho việc nghiên cứu một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính như sau: A.
Cây sống và các bộ phận của cây B. Động vật và các sản phẩm của động vật C. Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu nhựa thực vật. Các dịch vụ từ rừng, Mendelsohn (1989) [38] đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán và nhựa, thuốc nhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc.
Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm được sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch. Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị. Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trước đây bị lu mờ và ít được chú ý đến. n 5 Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về lâm sản ngoài gỗ trên thế giới với số lượng khổng lồ các giống loài.
Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng. Tính phong phú của lâm sản ngoài gỗ có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay. Nó chứng tỏ một tiềm năng lớn không chỉ cho phát triển kinh tế, mà còn cho việc xây dựng những hệ sinh thái có tính ổn định và bền vững cao. Đây cũng là cơ sở cho các nhà khoa học tiến hành những nghiên cứu đầy đủ hơn về lâm sản ngoài gỗ ở mỗi khu vực.
- Về giá trị của lâm sản ngoài gỗ: Hầu hết mọi người đều thừa nhận lâm sản ngoài gỗ như một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi. Ở Ghana, lâm sản ngoài gỗ có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng,v. đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình Falconer, (1989) [43]. Lâm sản ngoài gỗ cũng là một bộ phận của rừng, nếu lâm sản ngoài gỗ được sử dụng một cách hợp lý thì nó đóng vai trò to lớn trong quá trình phục hồi và phát triển rừng ở các nước đang phát triển.
Lâm sản ngoài gỗ được các nhà nghiên cứu coi như một yếu tố góp phần bảo tồn rừng và phát triển bền vững ở miền núi nhiệt đới Clark, (1997) [40]; Mendelsohn, (1989) [38]. Khi nghiên cứu ở lưu vực sông Công gô ở Cameroon, L.Clark kết luận:" Sự phát triển của lâm sản ngoài gỗ là một yếu tố đóng góp vào sự bảo tồn của hệ sinh thái rừng". Trong nghiên cứu của mình, Mendelsohn (1989) [38] đó cho thấy người ta có thể gặp một đám sản phẩm có giá trị rất cao. Peter (1989) [56] đã tìm thấy những khu rừng với 5 loài cây có giá trị kinh tế cao ở vùng Amazon của Peru.
Hàng năm chúng cho thu nhập từ 200- 6000 USD/ha. Myers (1986) [53] ước lượng khoảng 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu thụ bởi người địa phương và không bao giờ tính ra tiền mặt. Rõ ràng là người dân địa phương đã đạt được lợi ích cơ bản của họ từ những khu rừng kế cận. Đối với nền kinh tế của một số nước vai trò của lâm sản ngoài gỗ đó được khẳng định chẳng hạn ở Thái Lan trong năm 1987 đó xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đạt giá trị 23 triệu USD, ở Indonesia cũng trong năm đó đạt 238 triệu USD và ở Malaysia trong năm 1986 xuất khẩu hàng hóa sản xuất từ lâm sản ngoài gỗ đạt xấp xỉ 11 triệu USD (Jenne.
Ở ấn Độ (1982) lâm sản ngoài gỗ chiếm gần 40% giá trị lâm sản và n 6 60% giá trị lâm sản xuất khẩu. Ở Lào cũng đề ra mục tiêu đến năm 2000 có thể thu hời 50% nguồn lợi của rừng không phải là gỗ (Cứu lấy trái đất, 1993[31]). Trong một số trường hợp lợi ích thu được từ lâm sản ngoài gỗ lớn hơn nhiều so với thu nhập từ các sản phẩm khác. Nghiên cứu về tiềm năng kinh tế của lâm sản ngoài gỗ ở Đông Nam Á cho thấy có ít nhất 30 triệu người chủ yếu dựa vào các sản phẩm ngoài gỗ, đóng góp cho thị trường thế giới khoảng 3 tỷ USD từ các đồ gia dụng làm từ song mây.
Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Indonesia, Maylaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu sử dụng hợp lý các sản phẩm ngoài gỗ nhằm nâng cao đời sống của người dân bản địa nhằm bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng địa phương. Rừng như một nhà máy quan trọng đối với xã hội và lâm sản ngoài gỗ là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của nhà máy này (Mendelsohn, 1992). Phân tích vai trò của lâm sản ngoài gỗ ở vùng nhiệt đới tác giả còn nhận thấy ý nghĩa đặc biệt của nó với việc bảo tồn rừng. Bởi vì việc khai thác lâm sản ngoài gỗ có thể luôn được thực hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng, đảm bảo cho rừng ở trạng thái nguyên vẹn tự nhiên.
Bằng việc phát triển kinh doanh sản phẩm ngoài gỗ, rừng tự nhiên có thể được giữ gìn nguyên vẹn, trong khi người dân địa phương vẫn có thể thu được lợi ích từ các khu rừng này. Tác giả khẳng định rằng, việc kinh doanh lâm sản ngoài gỗ sẽ ngày càng được phát triển như một yếu tố triển vọng nhất cho quản lý rừng bền vững, cho giải quyết vấn đề môi trường và phát triển ở vùng núi nhiệt đới. Như vậy, các nghiên cứu đều đưa ra nhận định lâm sản ngoài gỗ có một vai trò to lớn, nó không phải là sản phẩm "Phụ", mà là một trong những sản phẩm chính của rừng, có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và góp phần vào bảo tồn và phát triển rừng. Gần đây, những phát hiện mới về tiềm năng của lâm sản ngoài gỗ như khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm với năng suất kinh tế cao và ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình và đặc biệt là việc khai thác chúng gần như không tổn hại đến rừng đó thúc đẩy nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ.
Phần lớn n 7 các nghiên cứu đều tập trung ở các nước nhiệt đới, nơi mà tiềm năng về lâm sản ngoài gỗ phong phú nhất, còn việc khai thác gỗ lại thường gây tổn hại nhiều nhất đối với hệ sinh thái rừng. - Về kiến thức bản địa: Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức bản địa liên quan đến lâm sản ngoài gỗ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, kiến thức bản địa về gây trồng, phát triển và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân là rất quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng lâm sản ngoài gỗ một cách hợp lý. Bởi vì kiến thức bản địa là những kết quả nghiên cứu đã được đúc kết và thử nghiệm lâu ngày của người dân trên thực địa.