Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Trong những năm qua, công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư nhằm chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật mới, những thông tin mới về quản lý sản xuất, kinh doanh và thị trường đến với hộ nông dân đã phát huy được tác dụng tích cực, góp phần phát triển sản xuất nông - lâm và ngư nghiệp và kinh tế nông thôn, được nông dân hoan nghênh và hưởng ứng. Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta từ nền nông nghiệp tự cấp, tự túc theo cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa theo cơ chế thị trường, trong nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ thì hoạt động khuyến nông như thế nào để đạt được hiệu quả cao hơn vẫn là vấn đề thời sự, vẫn là đề tài được sự thu hút quan tâm của các cấp, các ngành, các nhà khoa học và các cán bộ quản lý. Nói một cách khác, hiện nay trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, trong điều kiện xóa cơ chế bao cấp, tổ chức hoạt động khuyến nông như thế nào để giúp đỡ thiết thực được nông dân, nhất là nông dân nghèo ở những vùng xa xối, hẻo lánh, vùng dân tộc thiểu số và những người lao động ngành nghề sống ở nông thôn để họ biết cách làm ăn, sản xuất kinh doanh, biết cách tự giải quyết lấy vấn đề đặt ra ở làng xóm, quê hương để nông dân ta, nông thôn ta sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu, có đời sống ấm no hạnh phúc đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ta.
Cơ sở pháp lý - Chương IV Kinh phí hoạt động và chính sách khuyến nông, khuyến ngư; Điều 13, Điều 14, Điều 16, Điều 17 của Nghị định số 56/2005/ NĐ-CP ngày 26/4/2005 của chính phủ về Khuyến nông - Khuyến ngư; - Mục 1, 2, 3, 4, 5 phần II: Những quy định cụ thể của Thông tư số 30/2006/TTLT-BTC-BNN&PTNT-BTS ngày 06/4/2006 về việc hướng dẫn 5 việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến nông, khuyến ngư; - Thông tư liên tịch số: 50/TTLT ngày 21/05/2007 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư 30/2006/TTLT-BTC-BNN&PTNT ngày 06/4/2006 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động Khuyến nông - Khuyến ngư; - Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; - Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 của Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về Khuyến nông; - Điều 4, 5, 6, 7 của Thông tư liên tịch số 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15 tháng 11 năm 2010. Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước cấp đối với hoạt động Khuyến nông; - Mục 2a, b; mục 4; III. Định hướng quy hoạch sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp của Quyết định 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm đến 2030; - Quyết định số 212/QĐ-UBND ngày 25/3/2015 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tổng quan nghiên cứu Khuyến nông trên Thế giới và ở Việt Nam 1.
Trên thế giới Các hoạt động khuyến nông, kết quả sản xuất nông nghiệp và vai trò khuyến nông của một số nước trên thế giới. * Mỹ (1914) - Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân, Mỹ là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm. 6 - Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật Khuyến nông và thành lập Hệ thống Khuyến nông Quốc gia, giai đoạn này có 8.861 hội nông dân, với khoảng 3. - Năm 1843, Sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép Uỷ Ban Nông nghiệp bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn, xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân [10].
- Năm 1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường Đại học Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên. Ông cũng là người sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân. - Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường Đại học, năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông Đại học. - Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển.
Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương; (Sản lượng đậu tương năm1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn /6 năm, xuất khẩu lớn nhất TG: 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54 % lượng đậu tương xuất khẩu của thế giới. Ngô 2000 - 2001 đạt 335 triệu tấn, xuất khẩu 70 triệu tấn = 69 % TG) [17]. * Ở Ấn Độ (1960) - Hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm 1960. Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, lương thực nói riêng của Ấn Độ đang là vấn đề rất bức xúc, trước thực trạng này Chính phủ Ấn Độ có chủ trương quyết tâm giải quyết vấn đề lương thực; sự ra đời của hệ thống khuyến nông, Ấn Độ lúc này là cần thiết và tất yếu, thành công của nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò đóng góp đáng kể 7 của khuyến nông.
Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói tới thành tựu 3 cuộc cách mạng. (i) Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất. Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh; đã nói đến cách mạng xanh phải nói đến nông nghiệp Ấn Độ. Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai.
Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời. đã làm tăng vọt năng suất và sản lượng lương thực của quốc gia này. (ii) Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu. Nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa, Khuyến nông có vai trò cực kỳ quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: Vốn sản xuất, giống trâu bò sữa, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: Thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa.
* Ở Thái Lan (1967) - Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp. Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng với Việt Nam. Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu, hệ thống khuyến nông Nhà nước được thành lập năm 1967. Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau: + Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120 - 150 và thậm chí 200 triệu USD, lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta.
+ Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực trên thế giới (xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm). + Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản. 8 * Ở Trung Quốc (1970) - Năm 1928 Viện Đại học Nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân khoa khuyến nông. - Năm 1929 Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến kiến thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ”.
- Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 - 1978 nên giai đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX, nội dung khuyến nông giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp của Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT (tiến bộ kỹ thuật) nông nghiệp, xây dựng các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng. - Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh. - Năm 1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, Nghị quyết của BCH TW Đảng khóa VIII rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp. - Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển.
Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận: + Lúa lai: Khi mà sản xuất nông nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dưới 5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chịu thâm canh, tăng năng suất và sản lượng. Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu quả áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có được, công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể nâng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn [7]. Ở Việt Nam * Trước năm 1993 - Đã từ xa xưa Tổ tiên ta đã có những hoạt động khuyến nông, tục truyền vua Hùng Vương nước Văn Lang đã dạy dân xã Minh Nông (Vĩnh Phúc) cấy lúa, sau đó không lâu cây lúa đã là cây trồng chủ lực, người Văn Lang thờ Thần Nông, vị thần nông nghiệp của người Việt cổ. - Năm 981, thời Đinh - Lê đã có phong tục “Lễ hạ điền” của nhà vua, nhà vua chọn ngày, giờ khắc đẹp đầu năm xuống đồng cày sá đất đầu tiên, Hoàng hậu ngồi quay tơ dệt lụa.