Chương 1: MỤC TIÊU,ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.1 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI: Từ sau khi Nhà nước bắt đầu quan tâm đúng mức đến vấn đề BHLĐ, cũng như có những biện pháp cụ thể thì tình hình BHLĐ nói chung, công tác huấn luyện nói riêng ở các ngành sản xuất đã có những chuyển biến rõ rệt. Qua tổng hợp báo cáo về tình hình thực hiện công tác BHLĐ ở các tỉnh trong cả nước (tính đến cuối năm 2004) thì phần lớn các cơ quan, xí nghiệp đều thực hiện công tác BHLĐ theo đúng thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN. Tuy nhiên, chưa có một bản báo cáo nào thống kê, cũng như đánh giá cụ thể về thực trạng chất lượng huấn luyện an toàn vệ sinh lao động tại cơ sở. Tuy một số ngành nghề, cơ sở có tổ chức huấn luyện nhưng nhìn chung còn nhiều thiếu sót: công nhân mới thường được giao việc ngay mà không qua huấn luyện; chưa có chế độ huấn luyện tiêu chuẩn nhất là đối với một số ngành nghề đặc biệt nguy hiểm; đối với công nhân cũ thì việc huấn luyện lại còn tùy tiện hoặc có huấn luyện thì nội dung cũng rất sơ sài, không theo sát thực tế, thời gian huấn luyện ít, không đạt yêu cầu nên kết quả đạt được không cao.
Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình TNLĐ tính đến cuối năm 2004: + Trên 52 tỉnh và Thành Phố có 3896 vụ TNLĐ xảy ra làm 4089 người bị thương, 513 người chết. +Trong đó địa bàn TP. Hồ Chí Minh số vụ TNLĐ xảy ra nhiều nhất, 668 vụ TNLĐ làm 679 người bị thương, 62 người chết. Số liệu tổng hợp trên được thể hiện ở hình sau: Biểu đồ 1: Nguyên nhân gây ra TNLĐ Ghi chú: + ND1: 44.7% số vụ TNLĐ là do NLĐ và NSDLĐ vi phạm các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình kĩ thuật an toàn + ND2: 18% là do thiết bị, máy móc không đảm bảo an toàn + ND3: 2.6% là do người lao động không được huấn luyện + ND4: 32% là do nguyên nhân khác SVTH: NGUYỄN THỊ KIM THOA 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS.TRẦN VĂN TRINH Các số liệu trên cho thấy, số vụ TNLĐ do NLĐ không được huấn luyện rất thấp (2.6%), điều này chứng tỏ phần lớn công nh ân hiện nay đã được huấn luyện BHLĐ.
Trong khi đó số vụ TNLĐ do vi phạm quy trình, quy phạm an toàn lại chiếm một tỉ lệ rất cao (44.7%), cho phép ta đặt một dấu hỏi lớn đối với chất lượng của công tác huấn luyện hiện nay. NLĐ vi phạm là do các yếu tố khách quan họ không am hiểu về các quy trình, quy phạm an toàn hay do yếu tố chủ quan cố ý làm sai, làm ẩu? Vì vậy, vấn đề được đặt ra ở đây là công tác tổ chức huấn luyện được thực hiện như thế nào? Nội dung huấn luyện, hình thức huấn luyện như hiện nay có đạt yêu cầu không? Và kết quả đạt được ra sao? Tất cả các vấn đề trên sẽ được khảo sát, phân tích thông qua việc đánh giá công tác huấn luyện của Công Ty Cổ Phần Thực Phẩm Đóng Hộp Kiên Giang.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Đây là một đề tài đánh giá chung về tình hình huấn luyện BHLĐ tại cấp cơ sở, tuy nhiên để có cái nhìn cụ thể về vấn đề này, nên chọn một đối tượng đại diện để nghiên cứu và phân tích. Đối tượng được chọn để nghiên cứu ở đây là Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Đóng Hộp Kiên Giang. Đây là một Công ty với các sản phẩm chủ yếu là thực phẩm đống hộp, có trên 300 công nhân, với đội ngủ quản lý hoàn chỉnh.
Chọn Công ty này để khảo sát là vì: ốs lượng công nhân đông, ngành nghề đa đạng, điều kiện làm việc có nhiều nguy hại đến người lao động. Rất phù hợp với yêu cầu đánh giá của đề tài.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Đây là một đề tài đánh giá cho nên phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: 1 Phương pháp hồi cứu : Sử dụng các tư liệu đ cĩ trong cc chương trình nghin cứu v số liệu tổng hợp từ quá trình hoạt động của cơ sở, để phân tích đánh giá. Do đó cần thiết phải sử dụng phương pháp hồi cứu để sưu tầm và chọn lọc các số liệu để tra cứu. 2 Phương pháp phỏng vấn : Để đánh giá sát với thực tế và thu thập các thông tin, luận chứng cụ thể cho việc nghiện cứu cần thiết phải sử dụng phương pháp phỏng vấn.
Đối tượng để phỏng vấn là cán bộ quản lý và công nhân tại đơn vị. • Nội dung phỏng vấn chung là: ĐKLĐ, nhận thức, hiểu biết,… để tìm ra trọng tâm của nội dung huấn luyện. • Nội dung phỏng vấn riêng là: phương pháp huấn luyện, nội dung huấn luyện,… để xây dựng mô hình huấn luyện hợp lý. 3 Phương pháp khảo sát: • Sử dụng để khảo sát tình hình máy móc, thiết bị cũng như con người trước và sau huấn luỵên, từ đó đánh giá chất lượng và tác dụng của công tác huấn luyện.
• Trong đề tài này thực nghiệm thông qua dự một số lớp huấn luyện tại cơ sở và một số bài giảng của giáo viên để nhận xét đánh giá. 4 Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xử lý SVTH: NGUYỄN THỊ KIM THOA 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS.TRẦN VĂN TRINH các số liệu thông qua việc so sánh, đối chiếu với các số liệu đã có sẵn làm nổi bật các vấn đề bức xúc, các tồn tại, yếu kém và sự cần thiết phải đổi mới công tác huấn luyện hiện nay. SVTH: NGUYỄN THỊ KIM THOA 8 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS.TRẦN VĂN TRINH Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN BHLĐ: Điều 102, Bộ luật Lao Động quy định: “ Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người lao động…” Khoản 2, điều 7, Nghị định 06/CP quy định: “ Trước khi nhận việc, người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề, phải được hướng dẫn, huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Sau khi căn cứ vào công việc của từng người đảm nhiệm mà huấn luyện, hướng dẫn các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh phù hợp và phải được kiểm tra thực hành chặt chẽ…” Khoản 5, điều 13, Nghị định 06/CP quy định: “ Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các tiêu chuẩn quy định, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động.” Thông tư 08/1995/LĐTBXH-TT quy định: “ Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tổ chức huấn luyện cho người lao động, bảo đảm cho mọi người lao động đều được huấn luyện đầy đủ những nội dung về an toàn lao động, vệ sinh lao động cần thiết và phù hợp với công việc…” Thông tư 23/1995/LĐTBXH-TT quy định: “…Việc tổ chức và quản lý công tác huấn luyện đối với những người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải được tiến hành thường xuyên với chất lượng cao hơn và chặt chẽ hơn đối với người lao động làm công việc khác… …Người sử dụng lao động tổ chức biên soạn chương trình, nội dung huấn luyện phù hợp với mục đích, yêu cầu và đối tượng cụ thể của đơn vị…” 2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC HUẤN LUYỆN BHLĐ: 2.1 Tầm quan trọng của việc huấn luyện ATLĐ- VSLĐ: Đối với NSDLĐ họ là người quyết định đến việc công tác BHLĐ có được thực hiện hay không và thực hiện như thế nào? Nếu đội ngũ này hiểu biết thì họ sẽ tíc h cực chỉ đạo công tác BHLĐ trong đơn vị mình, nếu không họ sẽ ít quan tâm, thờ ơ do nhận thức không hết tầm quan trọng của công tác BHLĐ dẫn tới sự chỉ đạo hoạt động cầm chừng, cho có và kết quả là gây lãng phí chứ không thu lại được gì cả.
Do đó, việc huấn luyện cho đối tượng này là vô cùng quan trọng. Thực tế sản xuất cho thấy cán bộ quản lý càng cao càng ít tham gia các lớp huấn luyện BHLĐ. Họ thường né tránh với lý do bận công tác và cử cấp dưới đi thay mình một cách tùy tiện. Hơn nữa tổ chức huấn luyện cho các đối tượng này (nhất là NSDLĐ) do các cơ quan chức năng cấp tỉnh thực hiện lại rất ít tổ chức, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến hạ thấp vai trò huấn luyện BHLĐ cho cán bộ quản lý.
SVTH: NGUYỄN THỊ KIM THOA 9 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: KS.TRẦN VĂN TRINH Đối với cán bộ lãnh đạo các cấp trung gian, cán bộ giám sát là nhữ ng người trực tiếp quản lý NLĐ hàng ngày cũng rất cần được trang bị các trách nhiệm về BHLĐ cụ thể tại bộ phận do mình quản lý. Song các cơ sở thay vì chú ý biên soạn các quy chế riêng cho đối tượng này lại dồn hết trách nhiệm cho cán bộ chuyên trách BHLĐ, khiến cho vai trò lẽ ra là của cán bộ trung gian bị mất đi và như vậy sẽ không có cơ hội phối hợp hoạt động BHLĐ giữa họ và cán bộ BHLĐ. Về phía NLĐ, trước khi nhận việc không phải ai cũng được học hành đến nơi đến chốn, không phải ai cũng được đào tạo nghề một cách bài bản do đó khi vào làm việc họ thiếu các kiến thức cơ bản nói chung, các kiến thức về ATLĐ – VSLĐ nói riêng. Theo Nghị định 06/CP (mục 4 điều 19 chương 15) quy định: “ Bộ giáo dục và đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo đưa nội dung ATLĐ – VSLĐ vào chương trình giảng dạy trong các trường đại học, các trường kỹ thuật nghiệp vụ, quản lý, dạy nghề…”.
Tuy nhiên, không ph ải ai cũng được học qua trường nghề và ngay tại các trường này việc đào tạo về ATVSLĐ cũng còn rấtyếu kém, chưa được chuẩn hóa. Theo quy đinh, đối với trường trung học nghề, nội dung ATLĐ – VSLĐ sẽ được giảng dạy 30 tiết/khóa, song một số rất ít trường có soạn thành một môn học riêng, còn đa số trường thì lồng ghép luôn vào các môn học cụ thể, nên kết quả đạt được không cao mà nguyên nhân của việc này là do tại các trường nghề còn thiếu nghiêm trọng lực lượng giáo viên chuyên nghiệp về ATVSLĐ.