CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Công việc Có nhiều khái niệm khác nhau về công việc nhưng có thể hiểu “công việc là tập hợp tất cả các nhiệm vụ các trách nhiệm hay chức năng mà một người hay một nhóm người lao động phải đảm đương trong một tổ chức” [2, tr.
Trong đó nhiệm vụ chính là biểu thị từng hoạt động lao động riêng biệt với những mục đích cụ thể mà mỗi người lao động phải thực hiện. Công việc có thể coi là kết quả của sự phân chia lao động trong nội bộ tổ chức, với mỗi một cá nhân hay một nhóm đảm nhận một công việc cụ thể, phù hợp với trình độ chuyên môn tay nghề của từng người, từng nhóm lao động. Công việc là một đơn vị mang tính tổ chức nhỏ nhất trong một công ty. Công việc là cơ sở để các doanh nghiệp tổ chức quản lý.
Với mỗi một công việc cụ thể là một hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện bởi một người họăc một nhóm lao động. Một công ty có rất nhiều công việc, nên cũng cần rất nhiều người. Để doanh nghiệp có thể hoạt động tốt thì buộc các doanh nghiệp phải tổ chức quản lý tốt việc sản xuất kinh doanh, điều đó sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Đánh giá thực hiện công việc Đánh giá thực hiện công việc có nhiều quan điểm và tên gọi khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở quan niệm: "Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người ( nhóm người) lao động trong mối quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó đối với người lao động” .211] 11 Về bản chất đây là việc so sánh tình hình thực hiện công việc thực tế của chính người (nhóm người) lao động so với yêu cầu đề ra của tổ chức.
Như vậy, đánh giá thực hiện công việc phải có tính hệ thống và tính chính thức. Tính hệ thống của công tác đánh giá thực hiện công việc được thể hiện ở việc: công tác đánh giá thực hiện công việc thường được tiến hành đánh giá cho cả một thời kỳ, chứ không phải là một thời điểm nhất định nào đó; Có tổ chức bộ máy đánh giá và được đánh giá bằng những phương pháp có cơ sở khoa học. Còn tính chính thức được thể hiện ở sự công khai trong đánh giá; được đánh giá bằng văn bản, hợp pháp; xác định được chu kỳ đánh giá và sau quá trình đánh giá có sự thảo luận lại với người lao động để đảm bảo sự công bằng, chính xác trong đánh giá. Khi đánh giá thực hiện công việc , người ta căn cứ vào các tiêu chuẩn tiêu chí đánh giá đã được xây dựng và được tập thể thông qua để tránh những định kiến chủ quan hoặc những thiếu sót khi đánh giá, tạo nên sự thống nhất và công bằng, đồng thời tránh phát sinh mâu thuẫn do quá trình đánh giá gây ra.
Cũng cần thỏa thuận với người lao động (hoặc đại diện nhóm người lao động) về sự đánh giá đó để có những thông tin đầy đủ phục vụ cho việc đánh giá, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa bên đánh giá và bên được đánh giá, ngăn ngừa các tình huống làm phát sinh sự bất bình, qua đó đạt được các mục tiêu của đánh giá. Đánh giá giá trị công việc Khác với đánh giá thực hiện công việc, khái niệm đánh giá công việc đề cập đến việc nghiên cứu, đánh giác về chính công việc mà người lao động phải thực hiện[2,tr 212]. Đó là việc xác định : - Mức độ phức tạp của công việc - Mức độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của công việc - Tính trách nhiệm của công việc 12 Việc đánh giá công việc được sử dụng phục vụ cho quá trính phân công, bố trí nhân lực vào các nơi làm việc phù hợp với kiến thức, kỹ năng và sức khỏe của người lao động. Nó được sử dụng như là một cơ sở để đánh giá thực hiện công việc của người lao động.
Đánh giá người lao động Đánh giá người lao động hay đánh giá nhân viên là khái niệm đề cập đến việc đánh giá, nhận xét nhân viên theo một hoặc một số tiêu chí nào đó [2,tr 212]. Người lãnh đạo có thể nhận xét nhân viên theo các tiêu chí sau: - Phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, tinh thần và thái độ làm việc - Sức khỏe và mức độ phù hợp của sức khỏe so với yêu cầu của công việc - Mức độ hoàn thành công việc của nhân viên và khả năng phát triển trong công việc, những hại chế và nguyên nhân - Các tố chất có thể phát triển - Các khả năng, tiềm năng cần được khai thác Vậy tổng kết lại, với cách hiểu trên thì đánh giá công việc tách biệt và dễ nhận diện hơn đánh giá thực hiện công việc và đánh giá nhân viên. Ta có thể hiểu rằng đánh giá nhân viên bao hàm cả đánh giá thực hiện công việc. Đánh giá thực hiện công việc gắn liền với vị trí chức danh mà người lao động đang đảm nhận, còn đánh giá nhân viên đem lại cái nhìn toàn diện của tổ chức đối với nhân viên mà việc thực hiện công việc chỉ là một trong các yếu tố quan trọng phục vụ cho sự đánh giá đó.
Nội dung đánh giá thực hiện công việc 1. Xác định mục tiêu của đánh giá Trước hết ta cần xác định mục đích chính của đánh giá, từ đó có thể xây dựng một chương trình đánh giá hợp lý, phù hợp với mục đích chính của đánh giá. Mục tiêu đánh giá là yếu tố quan trọng quyết định đến việc xây 13 dựng phương pháp đánh giá, xác định các yếu tố trong đánh giá như sử dụng kết quả đánh giá như thế nào. Mục tiêu của việc đánh giá tình hình thực hiện công việc của người lao động trong tập thể lao động thông thường bao gồm hai mục tiêu cơ bản: Một là, đánh giá tình hình thực hiện công việc nhằm cải thiện sự thực hiện công việc của người lao động.
Mục tiêu này sẽ đạt được thông qua các hoạt động: Cung cấp thông tin cho người lao động biết mức độ thực hiện công việc của họ so với các tiêu chuẩn đặt ra và đặt kết quả đó trong mối tương quan với các nhân viên khác, từ đó kích thích sự phấn đấu của họ nhằm đạt được kết quả đánh giá cao hơn trong tương lai. Hoạt động thứ hai giúp đạt được mục tiêu trên đó là giúp người lao động phát hiện sai sót hay nhược điểm mắc phải, từ đó có biện pháp để khắc phục và nâng cao khả năng thực hiện công việc. Qua đó, nâng cao ý thức trách nhiệm và tạo điều kiện cho người lao động tự khẳng định mình. Hai là, đánh giá tình hình thực hiện công việc nhằm thực hiện mục tiêu giúp cho các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn.
Rõ ràng thông qua quá trình đánh giá, nhà quản lý có thể thu thập các thông tin làm sơ sở để hoạch định nhân lực. Các thông tin thu thập được trong quá trình đánh giá cũng là cơ sở quan trọng cho việc đào tạo và phát triển nhân viên; nâng lương và nâng ngạch, kỷ luật lao động. Quá trình này cũng giúp các nhà quản lý phát hiện những tài năng và làm cơ sở để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo phát triển các nhân viên có tài năng này trở thành các cán bộ chủ chốt trong tương lai. Ngoài hai mục tiêu cơ bản nói trên, tổ chức có thể đặt ra mục tiêu kích thích nhân viên và tạo bầu không khí tâm lý thuận lợi trong tập thể lao động.
Điều này có thể đạt được khi trong quá trình ĐGTHCV có hoạt động trao đổi đánh giá. Hoạt động này sẽ tăng cường mối quan hệ giữa nhân viên và quản 14 lý trên tinh thần hiểu biết lẫn nhau và kích thích, động viên người lao động thông qua việc ghi nhận những kết quả đạt được của họ trong công việc làm cơ sở cho sự phát triển trong tương lai của họ. Xác định đối tượng được đánh giá và chu kỳ đánh giá Xác định đối tượng được đánh giá: Đối tượng đánh giá có thể là một cá nhân hoặc một bộ phận trong tổ chức. Tùy thuộc vào mục đích đánh giá để xác định đối tượng đánh giá được phù hợp.
Đối tượng đánh giá thông thường là toàn bộ CBCNV trong tổ chức hoặc toàn bộ người lao động trong một doanh nghiệp. Nếu mục đích của ĐGTHCV chủ yếu phục vụ cho công tác trả lương cho người lao động, thì đối tượng đánh giá phải là toàn bộ CBCNV trong công ty hoặc toàn bộ người lao động trong tổ chức. Nếu đánh giá phục vụ cho việc chia các quỹ thưởng thì có thể chỉ xét một hoặc một số bộ phận có liên quan. Vấn đề tiếp theo chúng ta đề cập đến định kỳ đánh giá.
Tùy theo mục đích của việc đánh giá trong đơn vị mà có thể tổ chức đánh giá theo định kỳ chính thức hay không chính thức trong trường hợp cần thiết. Đây thực chất là việc xác định chu kỳ đánh giá. Chu kỳ đánh giá là khoảng thời gian giữa hai lần đánh giá liền kề. Phục vụ các mục đích khác nhau thì chu kì đáng giá cũng khác nhau.
Thông thường chu kỳ đánh giá ngắn nhất là một tháng. Thông thường kết quả đánh giá được sử dụng làm cơ sở tính lương cho người lao động mà hiện nay các công ty trả lương theo tháng, do vậy cần có kết quả đánh giá của người lao động trong chu kỳ tháng. Chu kỳ đánh giá chính thức 6 tháng hoặc 1 năm 1 lần có thể để phục vụ cho việc nâng lương, chia thưởng, định hướng phát triển cán bộ nhân viên. Chú ý không nên quy định chu kỳ đánh giá quá ngắn (dưới 1 tháng) hoặc quá dài (trên 12 tháng).
Các kết quả đánh giá chính thức thường được sử 15 dụng làm cơ sở để ra các quyết định nhân sự quan trọng đối với người lao động như thăng tiến, đề bạt,.Nếu chu kỳ đánh giá quá dài kết quả đánh giá không đảm bảo tính kịp thời để đưa ra các quyết định quản trị nhân sự. Dẫn đến giảm tạo động lực lao động. Nếu quy định chu kỳ đánh giá quá ngắn (dưới 1 tháng) cũng không hợp lý vì đánh giá như vậy sẽ tốn rất nhiều thời gian và công sức, song mức độ tạo động lực lao động không đáng kể, đôi khi còn gây căng thẳng trong nhân viên.