Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá thực hiện công việc. Chương 2: Phân tích thực trạng hệ thống đánh giá thực hiện công việc tại Za Hưng. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện hệ thống đánh giá thực hiện công việc của Za Hưng. Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Công việc Để đạt được mục tiêu của mình, mỗi tổ chức, doanh nghiệp đều phải xác định và phân chia nhiệm vụ cho từng cá nhân, bộ phận để thực hiện, các nhóm nhiệm vụ này được gọi là công việc. Theo từ điển Tiếng Việt “công việc là việc phải bỏ công sức ra để làm” [19, tr. Theo định nghĩa của một số chuyên gia: “Công việc là các việc làm mang tính chất chuyên nghiệp được thực hiện bởi nguồn nhân vật lực chuyên nghiệp”.
Theo tác giả Lê Thanh Hà: “Công việc là tổng hợp các nhiệm vụ, các trách nhiệm hay chức năng mà một người hay một nhóm người lao động phải đảm nhận trong tổ chức. Công việc chỉ rõ những chức năng nhiệm vụ của tổ chức mà một người hay một nhóm người lao động phải thực hiện. Đồng thời, công việc là cơ sở để phân chia các chức năng, quyền hạn và trách nhiệm cho từng người, từng nhóm người trong cùng một tổ chức” [12, tr. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, công việc được hiểu là “Tất cả những nhiệm vụ khác nhau được thực hiện bởi một người lao động hoặc là tất cả các nhiệm vụ giống nhau được thực hiện bở i một nhóm người lao động” [20, tr.
Như vậy, có thể hiểu: Công việc là những nhiệm vụ khác nhau mà một người hay một nhóm người trong một tổ chức phải đảm nhiệm. Đồng thời, công việc là cơ sở để phân chia trách nhiệm, chức năng, quyền hạn của từng người hay từng nhóm người trong tổ chức. Thực hiện công việc Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “thực hiện chính là làm cho trở thành sự thật bằng những việc làm và hành động cụ thể” [19, tr 1527]. Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 9 Như vậy, nếu theo nghĩa mà từ điển Tiếng Việt đưa ra, có thể hiểu thực hiện công việc là việc con người phải bỏ công sức ra, thông qua những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu nào đó.
Hoặc như tác giả khác định nghĩa: Thực hiện công việc là quá trình người lao động sử dụng kiến thức, kỹ năng và công sức của mình để hoàn thành một nhiệm vụ, công việc nào đó đóng góp vào cho tổ chức. Vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, thực hiện công việc là tổng thể những hành động của một người hay một nhóm người để hoàn thành một hay nhiều nhiệm vụ nhất định trong tổ chức. Đánh giá thực hiện công việc Có rất nhiều định nghĩa về đánh giá thực hiện công việc được các nhà nghiên cứu đưa ra như: - “Đánh giá thực hiện công việc thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động” [20, tr. - “Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người (nhóm người) lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó với người lao động.
Đây thực chất là việc so sánh tình hình thực hiện công việc của chính người (nhóm người) lao động so với yêu cầu đề ra của tổ chức” [12, tr. Như vậy, có thể thấy, mặc dù đưa ra các định nghĩa khác nhau nhưng về bản chất, đánh giá thực hiện công việc chính là việc sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người lao động trong tổ chức. Đánh giá thực hiện công việc là cơ sở để tổ chức hoạch định nguồn nhân lực; giúp tổ chức dự báo mức độ hoàn thành mục tiêu của người lao động trong những kì sắp tới; và là căn cử để tổ chức thực hiện khen thưởng hay kỉ luật lao động. Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.
Nội dung của đánh giá thực hiện công việc 1. Xác định mục tiêu đánh giá thực hiện công việc Để đánh giá thực hiện công việc có hiệu quả cần xác định đúng mục tiêu của đánh giá thực hiện công việc. Doanh nghiệp đánh giá để đạt những mục tiêu nào? Mục tiêu về hiệu quả kinh doanh hay mục tiêu về doanh số bán hàng, hay mục tiêu lợi nhuận?. Thông thường có hai nhóm đối tượng đánh giá cơ bản là người lao động và các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp.
Mục tiêu của ĐGTHCV hướng tới mỗi nhóm đối tượng này cụ thể như sau: - Mục tiêu của đánh giá thực hiện công việc đối với các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp bao gồm: + Mục tiêu kinh tế: kết quả của ĐGTHCV là cơ sở quan trọng để tổ chức trả lương, trả thưởng cho người lao động căn cứ vào việc so sánh các chỉ tiêu đã đề ra vào sự hoàn thành công việc của người lao động đạt ở mức nào. + Mục tiêu hành chính: Kết quả đánh giá thực hiện công việc là cơ sở để nhà quản lý đánh giá được mức độ thành công của hệ thống các chính sách quản trị nhân lực; và là cơ sở quan trọng để nhà quản lý ra các quyết định đúng đắn về nhân lực hoặc điều chỉnh chính sách quản trị nhân lực. + Mục tiêu đào tạo và phát triển: Kết quả đánh giá thực hiện công việc phản ánh kiến thức và kỹ năng của người lao động, dựa trên yêu cầu thực tế và mục tiêu của tổ chức mà tổ chức có các chính sách điều chỉnh và hoàn thiện nhân sự cho phù hợp. - Mục tiêu của đánh giá thực hiện công việc đối với cá nhân người lao động: Việc đánh giá tình hình thực hiện công việc của cá nhân người lao động có thể quy vào hai mục tiêu cơ bản: + Một là, đánh giá tình hình THCV nhằm cải tiến sự THCV của người lao động.
Mục tiêu này sẽ đạt được thông qua các hoạt động: Cung cấp thông tin cho người lao động biết mức độ thực hiện công việc của họ so với các tiêu chuẩn đặt ra và so với các nhân viên khác, từ đó kích thích sự phấn đấu của họ nhằm đạt được kết quả đánh giá cao hơn trong tương lai. Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 11 Giúp người lao động phát hiện sai sót, từ đó có biện pháp khắc phục và nâng cao khả năng thực hiện công việc. Qua đó, nâng cao ý thức trách nhiệm và tạo điều kiện cho người lao động tự khẳng định mình. + Hai là, đánh giá tình hình thực hiện công việc nhằm thực hiện mục tiêu giúp cho những nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhân sự đúng đắn.
Thông qua quá trình đánh giá, nhà quản lý có thể thu thập thông tin làm cơ sở để hoạch định nhân lực. Các thông tin thu thập được trong quá trình đánh giá cũng sẽ là cơ sở quan trọng cho việc đào tạo và phát triển nhân viên; thuyên chuyển và đề bạt cán bộ; cải tiến cơ cấu tổ chức; trả lương và thưởng; nâng lương và nâng ngạch; kỷ luật lao động. Quá trình này cũng giúp cho nhà quản lý phát hiện những tài năng làm cơ sở để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo phát triển các nhân viên có tài năng này trở thành những cán bộ chủ chốt trong tương lai,… 1. Xây dựng các tiêu chí đánh giá thực hiện công việc Để đánh giá thực hiện công việc, các tổ chức, doanh nghiệp phải xác định các tiêu chí đánh giá, mỗi tiêu chí bao gồm nhiều tiêu chuẩn khác nhau.
Tiêu chí ĐGTHCV là các chỉ tiêu thể hiện các yêu cầu của việc hoàn thành công việc cả về mặt số lượng và chất lượng. Đó là mốc chuẩn cho việc đo lường thực tế thực hiện công việc của nhân viên, là mục tiêu công việc của nhân viên. Việc xác định tiêu chí đánh giá ĐGTHCV thể hiện nhiệm vụ của nhân viên cũng như kỳ vọng của nhà quản lý đối với nhân viên. Việc đánh giá thường dựa vào các thông tin về phạm vi công việc, bản mô tả công việc, các mục tiêu của tổ chức, thành tích nhân viên ở hiện tại hay quá khứ, những điểm mạnh và điểm yếu, mục tiêu và nguyện vọng công việc của nhân viên.
Tiêu chí đánh giá phải cụ thể và có thể so sánh được, kết quả so sánh phải có tính ổn định và thống nhất cao; phải đo lường được, mục tiêu công việc phải sát với nội dung công việc, mục tiêu tổ chức; phải phản ánh một cách hợp lý các mức độ yêu cầu trong việc thực hiện công việc; phải hợp lý, Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 12 công khai rộng rãi trong toàn bộ nhân viên và đảm bảo sự nhất trí cao giữa nhân viên và nhà quản lí để thể hiện sự công bằng, dân chủ và minh bạch; phải có sự quy định rõ ràng thời gian để áp dụng và thời gian hoàn thành các tiêu chí này. Thông thường, tiêu chí đánh giá được chia thành hai loại là tiêu chí định tính và định lượng. Cụ thể: - Tiêu chí định tính: các tiêu chí mang tính định tính thường được đánh giá dưới dạng: Rất tốt, Tốt, Khá, Trung bình, Kém. với các đặc điểm nhận dạng cụ thể của các mức độ đánh giá.
Đôi khi, các tiêu chí định tính còn được thể hiện dưới dạng đánh giá điểm, song không có tiêu thức cụ thể để đánh giá khi nào đạt điểm cao, khi nào đạt điểm thấp hơn, trong trường hợp nào thì điểm của người này cao hơn điểm của người kia. Khi sử dụng các tiêu chí định tính, các yêu tố tình cảm hoặc thành kiến, định kiến thường có những ảnh hưởng nhất định đến kết quả đánh giá. - Tiêu chí định lượng: các tiêu chí mang tính định lượng có thể được thể hiện ở các mức điểm đánh giá cho từng mức độ thực hiện công việc, hoặc đôi khi được thể hiện ở dạng: rất tốt, tốt, khá, trung bình, kém. Nhưng có các đặc điểm nhận dạng rất cụ thể làm căn cứ xác định các mức đánh giá được đề cập trong tiêu chí.
Với tiêu chí mang tính định lượng, việc đánh giá sẽ đạt được tính nhất quán cao, kết quả đánh giá sẽ chịu ảnh hưởng rất ít bởi ý chí chủ quan của người đánh giá. Vì vậy, khi thiết kế các tiêu chí đánh giá, vấn đề quan trọng là phải lượng hóa các chỉ tiêu đánh giá.