ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm nghiệp là ngành sản xuất chính của đồng bào trung du, miền núi, phải nói là một ngành sản xuất đặc biệt, vừa sản xuất ra hàng hoá phục vụ cho chế biến và tiêu dùng, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, trong những năm qua ngành Lâm nghiệp đã có những chuyển biến rõ nét như diện tích rừng hàng năm đều tăng, hàng hoá thuộc lĩnh vực lâm nghiệp cũng tăng đáng kể trong tổng số hàng xuất khẩu của cả nước. Nhận thức của người dân đã thay đổi rõ rệt từ chỗ chỉ biết vào rừng chặt lâm sản từ rừng tự nhiên thì nay người dân đã tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng giảm bớt áp lực vào rừng tự nhiên. Trong những năm qua Nhà nước đầu tư trồng rừng theo các chương trình của các dự án như DA 327, 661, 147, [1].
Đặc biệt là dự án trồng rừng sản xuất theo QĐ 147/2007/ QĐ – TTG [1] đã làm thay đổi nhận thức của nhân dân về rừng. Sau một chu kỳ trồng rừng họ đã có thu nhập từ rừng, nhiều hộ đã thoát nghèo và giàu lên từ trồng rừng. Tuy vậy, năng xuất và hiệu quả trên đơn vị diện tích chưa cao, vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này trong sản xuất lâm nghiệp cần đưa ra được những phương thức canh tác thích hợp nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững.
Đặc biệt là trong trồng rừng, hiện nay việc lựa chọn loài cây trồng, lựa chọn mô hình rừng trồng không những thu được hiệu quả kinh tế - xã hội cao mà còn cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái tốt, đang là giải pháp có ý nghĩa chiến lược và mang tính khả thi nhất. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của các phương thức sản xuất kinh doanh lâm nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng. Song việc đánh giá hiệu quả của mô hình rừng trồng là một vấn đề khá phức tạp, vì giữa ba mặt kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái có mối quan hệ khăng khít và ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu như ta quá coi hiệu quả mặt này sẽ c 2 dẫn đến xem nhẹ mặt khác, cho nên việc tìm ra điểm gặp gỡ và hài hòa cho cả ba mặt trên là điều cần thiết, có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho việc phát triển bền vững.
Thạch Thành là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hoá. Là huyện có diện tích đất nông nghiệp ít, thường xuyên bị lụt bão do vậy thu nhập từ nông nghiệp không đủ đảm bảo cuộc sống người dân. Vì vậy, cuộc sống người dân còn dựa vào rừng là chính. Cùng với nhu cầu gỗ củi và các lâm sản khác từ rừng ngày càng tăng, kiểu canh tác lạc hậu của đồng bào miền núi đã làm giảm nhanh diện tích và chất lượng rừng, đồng thời ảnh hưởng xấu tới nguồn nước, tăng lượng xói mòn, giảm độ phì làm suy thoái tài nguyên rừng.
Diện tích rừng trồng nhiều nhưng năng xuất và sản lượng còn thấp. Mặt khác từ trước tới nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về đánh giá hiệu quả tổng hợp cho các mô hình rừng trồng tại địa phương. Chính vì những lý do trên mà tôi tiến hành nghiên cứu luận văn: “Đánh giá hiệu quả tổng hợp một số mô hình rừng trồng cây gỗ lớn tại huyệnThạch Thành, tỉnh Thanh Hoá”. Nhằm đưa ra được mô hình mang lại hiệu quả cao nhất cả về kinh tế - xã hội - môi trường sinh thái.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Quan điểm về đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình rừng trồng Từ những năm 50 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các mô hình rừng trồng đã bắt đầu được tiến hành và ngày càng được hoàn thiện, thống nhất trong phạm vi toàn thế giới. Vào những năm 1970 - 1980 ở những nước đang phát triển như Thái lan, Singapore, Philippines và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng dành những quan tâm thích đáng đến đánh giá tác động môi trường trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Gunter trường đại học tổng hợp thuộc bang Michigan - Mỹ đã xuất bản giáo trình: “Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư lâm nghiệp”. Trong đó, chủ yếu tác giả đưa ra các cơ sở để đánh giá hiệu quả rừng trồng như các công thức tính lãi, giá trị thu nhập trên chi phí, tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ… Đây là một giáo trình tương đối hoàn chỉnh để giới thiệu hệ thống chi tiêu và cơ sở để đánh giá hiệu quả từ đơn giản đến phức tạp, các chỉ tiêu cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng về mặt kinh tế - xã hội và môi trường, một số chỉ tiêu đơn giản đã và đang được vận dụng trong đánh giá hiệu quả kinh doanh.[4] Giai đoạn nghiên cứu hiệu quả tổng hợp của rừng có thể chia ra làm 2 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Từ khi loài người xuất hiện đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đây là giai đoạn con người nhận thức và tiến hành các nghiên cứu riêng rẽ hiệu quả kinh tế, môi trường của rừng. Công trình nghiên cứu đầu tiên về hiệu quả sinh thái là công trình nghiên cứu xói m n đất đã được nhà khoa học người Đức Volni tiến hành (1877 - 1895). Ông đã tiến hành nghiên cứu ảnh c 4 hưởng của thực vật, độ dốc, loại đất đến cường độ xói m n đất.
Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ là định tính những nhân tố ảnh hưởng, mà chưa tìm ra nguyên nhân đầu tiên gây xói m n đất [5]. Đến năm 1944, nhà khoa học Ellinson đã phát hiện ra vai trò quan trọng của hạt mưa trong hoạt động xói mòn. Thí nghiệm của Ellinson đã chứng minh rằng, việc giảm tốc độ hạt mưa bằng các dàn che nhân tạo hoặc tán lá của thảm thực vật sẽ giảm cường độ xói m n hàng trăm lần. Phát hiện trên của Ellinson đã làm thay đổi quan điểm nghiên cứu xói mòn và khả năng bảo vệ đất của lớp phủ thực vật.
Các nghiên cứu xói mòn chuyển sang thời kỳ định lượng, áp dụng phưong pháp thực nghiệm hiện trường và phương pháp nhân tạo trong phòng thí nghiệm. Kết quả nghiên cứu quan trọng nhất về xói mòn và bảo vệ đất là xây dựng phương trình mất đất tại trường đại học Phadun (Mỹ) và được Wischmeier W. Phương trình có dạng: A = S.P Trong đó: A là lượng đất mất đi; K là chỉ số xói mòn của đất; L là hệ số chiều dài sườn dốc; s là hệ số độ dốc; c là hệ số cây trồng, p là hệ số bảo vệ đất.[5] Phương trình trên đã làm sáng tỏ vai trò của từng nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn. Nó có tác dụng định hướng cho các nghiên cứu nhằm xác định quy luật xói mòn ở các khu vực có điều kiện địa lý khác nhau.
Tuy nhiên, sử dụng phương trình trên gặp phải khá nhiều khó khăn do sự khác biệt về điều kiện địa lý, địa chất, tự nhiên, kinh tế, xã hội và việc canh tác nông lâm nghiệp so với điều kiện nơi xây dựng phương trình. c 5 Ngoài các nghiên cứu về xói m n đất, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả nuôi dưỡng nguồn nước của rừng. Năm 1937, Vư-sôp-xki đã nghiên cứu khả năng thấm nước của lớp phủ thực vật thông qua lượng thoát hoi nước của thực vật và dòng chảy bề mặt. Giai đoạn 2: từ thập kỷ 70 cho đến nay, các nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế, xã hội và sinh thái hay hiệu quả tổng hợp của rừng.
Năm 1974, trường đại học tổng họp thuộc bang Michigan (Mỹ) đã xuất bản giáo trình “Những vấn đề trong đánh giá đầu tư lâm nghiệp”[36]. Nội dung chủ yếu của giáo trình đưa ra cơ sở đánh giá hiệu quả của rừng trồng. Đây là giáo trình tương đối hoàn chỉnh về cơ sở và các chỉ tiêu đánh giá từ đơn giản đến phức tạp hiệu quả tổng họp của rừng trồng. Năm 1979, Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) đã xuất bản giáo trình “Phân tích dự án lâm nghiệp” do Hans M-Gregersen và Amoldo H.Contresal biên soạn.
Cuốn sách đã đề cập đến các nội dụng: tiếp cận phân tích dự án, phương pháp phân chi phí đầu vào và ra, phương pháp phân tích hiệu quả của dự án. Hiệu quả kinh tế của dự án trồng rừng bao hàm cả hiệu quả về mặt xã hội và sinh thái. Trong nhiều năm, FAO đã nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc và đưa ra các mô hình canh tác có hiệu quả như: SALT 1, SALT 2 và SALT 3.[42] Đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sự phát triển của kinh tế thế giới đã gây ra suy thoái tài nguyên và ô nhiễm nặng nề trên toàn thế giới (thủng tầng ô zôn, hiệu ứng nhà kính, hạn hán, lũ lụt. Để giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển và bảo vệ môi trường cần có quan điểm phát triển bền vững nhằm thoả mãn nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng tới tương lai.
Các nghiên cứu về hiệu quả rừng trồng Ngày nay, quan điểm phát triển bền vững kinh tế, xã hội đã trở thành một quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không thể bỏ qua. Tại hội nghị c 6 quốc tế về môi trường năm 1992 ở Riodejaneiro đã đi tới tiếng nói chung là phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới sự phát triển bền vững trong từng nước và trên toàn thế giới. Trồng rừng ở Braxin: Trồng rừng ở Braxin là một thành công hết sức khích lệ. Năm 1991, Campinhos đã thông báo kết quả thực tiễn năng suất rừng trồng trong suốt 30 năm.
Có thể thấy do nhờ chọn giống, nhân giống hom và thâm canh mà năng suất rừng trồng tăng 5% mỗi năm. [12] Trồng rừng ở Công Gô: Diện tích rừng trồng bằng cây hom ở Công Gô từ năm 1978 đến năm 1986 là 23407 ha. Tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các d ng vô tính được chọn là 35 m3/ha/năm so với 12 m3/ha/năm ở các lô hạt chưa được tuyển chọn và 25 m3/ha/năm của các xuất xứ đã được tuyển chọn. Như vậy, tăng 40% lên 192 % tức là gần 5 lần so với rừng trồng chua được cải thiện.