Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Hệ thống thủy lợi của Thái Nguyên sau nhiều năm được đầu tư, hiện tại toàn tỉnh đã có một số công trình thuỷ lợi lớn như hệ thống hồ Núi Cốc, đập Thác Huống, hồ Bảo Linh, hồ Gò Miếu, hệ thống đê sông Cầu. Tổng số có 2027 công trình lớn nhỏ.
Hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích yêu cầu tưới vụ chiêm: 25.000 ha, các công trình hiện có tưới được khoảng 22.000 ha đạt 70% so với diện tích cần tưới, vụ mùa diện tích yêu cầu tưới: 42.142 ha, hiện tại tưới được 34. Nước là cội nguồn của sự tồn tại, mọi sự sống đều bắt nguồn từ nước. Vai trò của nước là muôn màu, muôn vẻ, nước quyết định sự sống trên trái đất. Hiện nay nguồn nước mặt trên trái đất đang suy giảm về số lượng và chất lượng, sự suy giảm này đang đưa con người đến trước nhiều nguy cơ thiếu nước sinh hoạt.
Vì vậy cần có những biện pháp quản lý phù hợp, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt là rất cần thiết để đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục và giảm thiểu đối với việc làm suy giảm nguồn nước [11]. Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Nước là cội nguồn của sự tồn tại, mọi sự sống đều bắt nguồn từ nước.
Vai trò của nước là muôn màu, muôn vẻ, nước quyết định sự sống trên trái đất. Hiện nay nguồn nước mặt trên trái đất đang suy giảm về số lượng và chất lượng, sự suy giảm này đang đưa con người đến trước nhiều nguy cơ thiếu nước sinh hoạt. Vì vậy cần có những biện pháp quản lý phù n 5 hợp, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt là rất cần thiết để đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục và giảm thiểu đối với việc làm suy giảm nguồn nước [8]. Cơ sở thực tiễn Thái Nguyên là tỉnh có nền nông nghiệp khá phát triển, ngoài trồng lúa nước, trên địa bàn tỉnh còn trồng các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cây Chè (Đại Từ, TP Thái Nguyên v.
Để phục vụ các hoạt động cung cấp nước cho sản xuất Nông nghiệp và hoạt động phát triển kinh tế xã hội nói chung trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh tương đối phát triển như Hồ Núi Cốc, đập Thác Huống, hồ Bảo Linh, hồ Gò Miếu và hệ thống đê sông Cầu v.241 công trình lớn nhỏ, 47,4km đê [5]. Trong quá trình quản lý vận hành khai thác các hồ chứa trên địa bàn tỉnh đã nảy sinh một số vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Đó là, việc đô thị hóa đã dẫn đến các hình thức lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình, lấn chiếm lòng hồ trái phép trong thường xuyên xảy ra và ngày càng phức tạp gây ảnh hưởng tiêu cực đến quy trình vận hành tích nước của các hồ và gây khó khăn trong công tác quản lý và có nguy cơ gây mất an toàn cho công trình. Bên cạnh đó là sự vận hành điều tiết hồ còn chưa thực hiện đúng theo quy trình đã được bộ NN&PTNT phê duyệt.
Điều đáng quan ngại là nguồn nước thải từ các khu du lịch, các khu dân cư, các hộ dân sinh sống xung quanh hồ, các khu vực sản xuất nông nghiệp v. không qua sự kiểm soát, hệ thống xử lý nào mà được xả thẳng xuống hồ ngày càng tăng đã gây nên tình trạng ô nhiễm nguồn nước. Đó là chưa kể, vấn đề vi phạm, lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Đặc biệt là trong khu vực lòng hồ các vụ vi phạm san ủi đát trái phép của một số đơn vị, cá nhân đã làm thu hẹp đang kể diện tích mặt nước hồ.
Trong khi đó, sự phối hợp giữa các cấp chính quyền với n 6 đơn vị quản lý trong việc giải quyết vi phạm còn hạn chế, do một số vụ vi phạm khi bị phát hiện cũng chỉ dừng lại ở mức độ lập biên bản xử lý hành mà chưa có biện pháp kiên quyết để giải quyết triệt để [13]. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005; - Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012; - Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của Chính phủ Quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước; - Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; - Nghị định 112/2008/NĐ-CP ngày 20/10/2008 về quản lý, bảo vệ khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện. - Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; - Quyết định số 58/2007/QĐ-TTg ngày 04/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020; - Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; - Quyết định số 185/QĐ-UBND ngày 24/01/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành “Đề án bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá giai đoạn 2007 - 2010 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”; - Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; n 7 - Quyết định số 25/2010/QĐ-UBND ngày 25/8/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Quy hoạch BVMT tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020; - Quyết định số 1309/QĐ-UBND ngày 27/5/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt đề cương thực hiện Dự án phân vùng chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; - Quyết định số 25/2010/QĐ-UBND ngày 25/8/2010 của Ủy bản nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Quy hoạch Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020; - Quyết định số 1309/QĐ-UBND ngày 27/5/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt đề cường thực hiện phân vùng chất lượng nước mặt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; - Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19/3/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước; - Thông tư số 47/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; - Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Khái quát các vấn đề liên quan * Tài nguyên nước trên thế giới Nước biển dâng cao do băng tan là mối đe dọa với các quốc gia có biển.
Những cơn "đại hồng thủy", "thủy triều đen", "thủy triều đỏ" xuất hiện nhiều hơn với tác hại nghiêm trọng hơn. Có khi trong cùng một thời điểm, ở vùng này, quốc gia này bị khô hạn, thì ở vùng khác, quốc gia khác lại đang phải lo thoát lũ, chống lụt, bão và lở đất. Trước tình trạng khan hiếm nước, đây đó ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới cũng đã xảy ra mâu thuẫn và xung đột vì tranh giành nguồn nước. Chính phủ nhiều nước phải kêu gọi người dân tiết kiệm nước, sử dụng và khai thác nước hợp lý.
Áp dụng các công nghệ xử lý nước thải được nhiều nước trên thế giới quan tâm nhiều hơn [11]. n 8 Hàng năm, "Tuần Nước Thế giới" được Liên hợp quốc tổ chức thường niên, từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 9. Năm 2013, Đại Hội đồng Liên hợp quốc quyết định chọn là Năm Quốc tế về hợp tác nguồn nước nhằm nâng cao nhận thức, tăng cường khả năng hợp tác và giải quyết những thách thức trong quản lý nước. Trong thế kỷ XX, nhu cầu về nước ngọt của nhân loại tăng lên gấp sáu lần so với thế kỷ XIX.
Trung bình mỗi ngày, một người dân ở Bắc Mỹ, chủ yếu là Canada và Hoa Kỳ dùng từ 600 đến 800 lít nước. Để so sánh, nhu cầu này tại các quốc gia đang phát triển dao động từ 60 đến 150 lít/ ngày. Dân số trên toàn cầu ước tính lên tới 9 tỷ người vào khoảng năm 2050. Nhu cầu về lương thực qua đó tăng theo [6].
Về trữ lượng tài nguyên nước trên trái đất có trữ lượng khoảng 1,45 tỷ km3, bao gồm các dạng nước như nước mặt, nước đóng băng, nước sông hồ, nước bốc hơi, nước ngầm v. Được chia cụ thể qua bảng trữ lượng nước trên trái đất. Trữ lượng nước trên trái đất Tỷ lệ % Diện tích Khối lượng STT Phần thuỷ quyển tổng lượng 103 km3 nước 103 km3 nước 1 Đại dương 361.323 94,20 2 Nước ngầm trao đổi 134.058 280 0,02 5 Nước trong đất 82.000 85 0,006 6 Hơi nước trong khí quyển 510.714 100 Nguồn: Nguồn nước và tính toán thủy lợi - Trịnh Trọng Hàn - 1998 n 9 Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy rằng nguồn nước chủ yếu tập trung ở các đại dương chiếm 94,2% tổng trữ lượng nước trên toàn thế giới. Sông ngòi, ao hồ, tuyết chiếm 0,02%, nước ngầm 0,006%, băng 1,65% tổng trữ lượng nước trên toàn thế giới.
Trên phạm vi lục địa trữ lượng nước mặt bao gồm nước băng tuyết chiếm 98,83% tổng trữ lượng nước lục địa, giả thuyết khối lượng băng hà tan thành nước thì mực nước đại dương có thể dâng lên 6,4m. Lượng nước băng tuyết bằng tổng dòng chảy sông trong 600 năm. Tuy nhiên, trong thực tế băng hà nằm ở khu vực giá lạnh vĩnh cửu nên khả năng tan rất hạn chế. Ngược lại, nước sông hồ tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ, song do tham gia vào chu trình tuần hoàn vận động rất tích cực nên chúng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của con người [10].
Về lượng nước hồ chiếm 1,15% tổng trữ lượng nước lục địa, khối lượng cho tới nay vẫn chưa tính được chính xác vì chưa được điều tra đầy đủ, sơ bộ ước tính có 2,8 triệu hồ tự nhiên trong 145 hồ có diện tích mặt trên 100 km2. Lượng nước của những hồ này chiếm 95% tổng số, trong đó khoảng 56% là nước ngọt.