Đặt vấn đề Nƣớc là một dạng tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng đối với con ngƣời và sinh vật sống trên trái đất, nƣớc là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội.Có thể nói không có nƣớc thì cuộc sống trên trái đất không thể tồn tại đƣợc.Nƣớc cung cấp cho cơ thể con ngƣời nhiều nguyên tố cần thiết. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh con ngƣời có thể nhịn ăn đƣợc nhiều ngày nhƣng không thể nhịn uống quá 3 ngày trong điều kiện bình thƣờng. Tài nguyên nƣớc bao gồm nguồn nƣớc ngầm, nƣớc mƣa, nƣớc mặt và nƣớc biển. Trong đó tài nguyên nƣớc mặt và nƣớc ngầm là có tầm quan trọng và liên quan trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của con ngƣời.
Nguồn nƣớc mặt là các dạng tích tụ nƣớc tự nhiên hay nhân tạo có thể khai thác sử dụng trên mặt đất hoặc hải đảo bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch, đầm, phá, hồ chứa nƣớc tự nhiên, hồ chứa nƣớc nhân tạo, băng tuyết… Nƣớc dƣới lòng đất hay nƣớc ngầm là nguồn cung cấp nƣớc quan trọng cho sinh hoạt hằng ngày của con ngƣời và cây trồng. Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội con ngƣời sử dụng nƣớc ngày càng nhiều và lãng phí đã đƣa nhiều quốc gia vào tình trạng thiếu nƣớc.Nƣớc đƣợc sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nƣớc đƣợc dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trƣờng. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nƣớc ngọt, 97% nƣớc trên Trái đất là nƣớc muối, chỉ 3% còn lại là nƣớc ngọt.Việc sử dụng không hợp lí nguồn nước ngọt ít ỏi này dẫn tới tình trạng thiếu nước sạch ngày càng trở nên trầm trọng. Hiện nay nƣớc từ thiên nhiên là nguồn cung cấp nƣớc chính, chủ yếu là nguồn nƣớc mặt và nguồn nƣớc ngầm.
Tuy nhiên nguồn nƣớc từ tự nhiên có chất lƣợng khác nhau và phần lớn đang bị suy giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ: Dân số gia tăng, phát n 2 triển kinh tế và công tác quản lý tài nguyên nƣớc chƣa đƣợc thỏa đáng. Con ngƣời sử dụng nƣớc cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là dùng trong sinh hoạt. Việc cải thiện cấp nƣớc sinh hoạt và điều kiện vệ sinh góp phần quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng về sức khỏe cho ngƣời dân Vì vậy để đảm bảo nguồn nƣớc phục vụ cho các hoạt động của con ngƣời và bảo vệ nguồn nƣớc khỏi bị suy thoái, cạn kiệt giúp cho việc quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả thì các địa phƣơng, khu vực và các ngành không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, qua đó, mỗi tổ chức cũng nhƣ ngƣời dân nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nƣớc đối với cuộc sống. Xã Đồng Thịnh là một xã thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên kinh tế còn chậm phát triển chủ yếu là dựa vào nông nghiệp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm gần đây với sự phát triển kinh tế, xã hội thì vấn đề môi trƣờng trên địa bàn xã đang gặp nhiều bất cập.Môi trƣờng đất, môi trƣờng không khí, nguồn nƣớc mặt, nguồn nƣớc ngầm đang có nguy cơ bị ô nhiễm.Điều này gây ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe của ngƣời dân. Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân tại các vùng nông thôn, để đánh giá chất lƣợng nƣớc đang sử dụng tại địa phƣơng, tìm ra nguyên nhân gây ô nhiễm và qua đó đƣa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nƣớc để đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc sạch sinh hoạt tại địa phƣơng. Đƣợc sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trƣờng, dƣới sự hƣớng dẫn của ThS. Hà Đình Nghiêm Giảng viên khoa Môi Trƣờng trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt tại xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. n 3 - Nắm đƣợc tình hình sử dụng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Đƣa ra những giải pháp khắc phục, tháo gỡ những bất cập còn tồn tại đối với vấn đề nƣớc sinh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc sạch tại địa phƣơng. Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng hiện trạng môi trƣờng nƣớc sinh hoạt tại xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực, khách quan. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đƣa ra có tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Củng cố lý thuyết, kiến thức đã đƣợc trang bị trong quá trình học tập. - Nâng cao hiểu biết thêm về kiến thức thực tế. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng.
- Bổ sung tƣ liệu cho học tập. Ý nghĩa thực tiễn - Phản ánh thực trạng về môi trường nước sinh hoạt tại xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Cảnh báo vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trƣờng nƣớc sinh hoạt. - Từ việc đánh giá hiện trạng, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc sạch của ngƣời dân tại địa phƣơng.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường Khái niệm về môi trường: (Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo vệ môi trƣờng Việt Nam năm 2014). Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật. Ô nhiễm môi trƣờng là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng và tiêu chuẩn môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời và sinh vật [3].
Một số khái niệm liên quan đến tài nguyên nước Tài nguyên nƣớc là một dạng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, vừa vô hạn vừa hữu hạn và chính bản thân nƣớc có thể đáp ứng cho các nhu cầu của cuộc sống ăn uống, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, năng lƣợng, nông nghiệp, giao thông vận tải thủy, du lịch. Tài nguyên nước được phân thành 3 dạng chủ yếu theo vị trí cũng như đặc điểm hình thành, khai thác và sử dụng. Đó là nguồn nước trên mặt đất (nước mặt), nước dưới đất (nước ngầm), và nước trong khí quyển (hơi nước). Về mặt hóa học nước có công thức là H2O (nguyên chất), tuy nhiên trong tự nhiên nước còn bao gồm nhiều các chất hòa tan, các chất lơ lửng và các sinh vật sống.
Các thành phần này phụ thuộc vào điều kiện nguồn phát sinh, môi trường xung quanh [6]. Nƣớc mặt là nƣớc trong sông, hồ hoặc nƣớc ngọt trong vùng đất ngập nƣớc. Nƣớc mặt đƣợc bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất n 5 đi khi chảy vào đại dƣơng, bốc hơi và thấm xuống đất. Lƣợng giáng thủy này đƣợc thu hồi bởi các lƣu vực, tổng lƣợng nƣớc trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác.
Các yếu tố này nhƣ khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nƣớc và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dƣới các thể chứa nƣớc này, các đặc điểm của dòng chảy mặn trong lƣu vực, thời lƣợng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phƣơng. Tất cả các yếu tố này đều ảnh hƣởng đến tỷ lệ mất nƣớc [13]. Nƣớc ngầm là một dạng nƣớc dƣới đất, là nƣớc ngọt đƣợc chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nƣớc chứa trong các tầng ngậm nƣớc bên dƣới mực nƣớc ngầm.
Đôi khi ngƣời ta còn phân biệt nƣớc ngầm nông, nƣớc ngầm sâu và nƣớc chôn vùi [13]. Nƣớc sinh hoạt là nƣớc có thể dùng cho ăn, uống, phục vụ cho cuộc sống con ngƣời. “Nƣớc sạch” là đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước sạch của tiêu chuẩn Việt Nam [6]. Nước sạch phục vụ cho đời sống con ngƣời cần đạt đƣợc những tiêu chí sau: - Nƣớc trong không màu.
- Không có mùi lạ, không có tạp chất. - Không chứa chất tan gây hại - Không có vi khuẩn gây bệnh 2. Khái niệm về ô nhiễm nước Hiến chƣơng Châu Âu về nƣớc đã định nghĩa: "Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi nói chung do con ngƣời đối với chất lƣợng nƣớc, làm nhiễm bẩn nƣớc và gây nguy hiểm cho con ngƣời, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã" [14]. - Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc tự nhiên: do mƣa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đƣa vào môi trƣờng nƣớc các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng.
n 6 - Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dƣới dạng lỏng nhƣ các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trƣờng nƣớc. - Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, ngƣời ta phân ra các loại ô nhiễm nƣớc: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. - Ô nhiễm nƣớc mặn, ô nhiễm nƣớc ngầm và biển. Ô nhiễm nƣớc là hiện tƣợng các vùng nƣớc nhƣ sông, hồ, biển, nƣớc ngầm.
bị các hoạt động của con ngƣời làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con ngƣời và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi thành phần và chất lƣợng nƣớc không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hƣởng xấu đến đời sống con ngƣời và sinh vật. Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hoá học, sinh học của nƣớc, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nƣớc trở nên độc hại với con ngƣời và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nƣớc.
Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hƣởng thì ô nhiễm nƣớc là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.