chương 1 Chương này trình bày tính cấp thiết và lý do chọn đề tài, đưa ra câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Nêu lên ý nghĩa của đề tài và bố cục của luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 2.1 Hộ kinh doanh cá thể 2.1 Khái niệm hộ kinh doanh cá thể Theo quan niệm của thế giới, như pháp luật Anh quan niệm thương nhân đơn lẻ là một người kinh doanh bằng số tiền của mình; tự chọn lựa địa điểm phù hợp để tiến hành kinh doanh, có thể thuê thêm người lao động để phụ giúp trong việc kinh doanh hoặc không; số tiền vốn bỏ ra lúc đầu là của chính cá nhân tự tiết kiệm được mà có hay do cá nhân đi vay mượn. Khi nói về thương nhân ở đất nước Hoa Kỳ luật quy định doanh nghiệp có thể là một thương gia với số tài sản cá nhân và doanh nghiệp này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân.
Quan niệm về thương nhân ở Pháp luật này nói rằng thương nhân thể nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình. Theo hệ thống pháp luật này, tòa án của nước này sẽ xác định thực tế việc cá nhân trở thành thương nhân. Nếu là thương nhân thì tên của họ sẽ được ghi trong Sổ đăng ký thương mại tại tòa án thương mại. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh được gọi là hộ kinh doanh khi họ làm chủ cơ sở kinh doanh và không được sử dụng quá mười lao động, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, không có con dấu.
Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Vậy hộ kinh doanh cá thể bắt nguồn từ nhu cầu sản xuất, đời sống xã hội và tồn tại như một tất yếu khách quan. Hộ kinh doanh cá thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, nguồn thu từ thành phần kinh tế này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn cho Ngân sách Nhà nước, không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng sản phẩm xã hội đồng thời còn tạo được công ăn việc làm cho một lực lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 lớn lao động nhàn rỗi đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết, và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân thông qua việc tạo thu nhập cho họ.2 Đặc điểm hộ kinh doanh cá thể - Có số lượng lao động không quá 10 người, nếu trên 10 người tham gia sản xuất thì bắt buộc hộ kinh doanh cá thể phải chuyển sang thành lập doanh nghiệp. - Thủ tục thành lập hộ kinh doanh cá thể khá đơn giản.
- Không có tư cách pháp nhân, phải chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ bằng toàn bộ tài sản của cá nhân hay hộ gia đình thực hiện hoạt động kinh doanh, không được phát hành chứng khoán để huy động vốn. - Có thể do một cá nhân hay một hộ gia đình làm chủ. Như vậy nguồn vốn kinh doanh sẽ là tất cả các tài sản của cá nhân hay hộ gia đình làm chủ hoạt động sản xuất kinh doanh. - Hộ kinh doanh cá thể không phải thực hiện kê khai thuế hằng tháng, chứng từ sổ sách kế toán đơn giản và được áp dụng chế độ thuế khoán.
- Do hộ kinh doanh không được kê khai, tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên không được hoàn thuế và không xuất được hóa đơn giá trị gia tăng. - Khi có những phát sinh về nghĩa vụ tài chính hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn về nợ, trả hết nợ không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt hoạt động kinh doanh. - Do đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của mình nên hộ kinh doanh cá thể luôn luôn chủ động trong sản xuất, cố gắng tìm tòi, ứng dụng các biện pháp hay để tăng năng suất trong kinh doanh, quyền lực được tập trung vào chủ hộ kinh doanh cá thể nên ra quyết định thường kịp thời, quá trình sản xuất thống nhất từ trên xuống dưới, luôn tìm cách để đạt được lợi nhuận cao nhất. Thêm vào đó họ dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với thị trường.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái niệm liên quan đến tuân thủ thuế 2.1 Khái niệm thuế Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng. Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước. Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước đã ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội.” Đứng trên góc độ đối tượng chịu thuế: Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản.
Hiện nay, ở từng góc độ mà có các khái niệm khác nhau về thuế: - Đứng ở góc độ pháp luật thì “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước”, đồng thời, thuế là công cụ điều tiết kinh tế linh hoạt, nhạy bén và hiệu quả. Tính hợp lý của các hình thức và biện pháp thuế khiến cho thuế trở thành công cụ điều tiết sắc bén, đa dạng và thâm nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” - Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” - Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.2 Khái niệm thuế GTGT: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu tính trên phần giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Trong đó phần giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ được xác định là giá trị tăng thêm được tạo ra ở mỗi giai đoạn trong quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ.3 Đặc điểm của thuế GTGT - Là loại thuế gián thu.
- Thuế GTGT phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên GTGT. - Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam và các tổ chức cá nhân khác có hàng hóa nhập khẩu chịu thuế GTGT. - Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao.Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: + Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN.
Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá dịch vụ. + Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.3 Hành vi tuân thủ thuế Tuân thủ thuế là việc thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật thuế. Tuân thủ thuế là hành vi bắt buộc đối với nhiều chủ thể khác nhau như cơ quan quản lý thuế, người nộp thuế, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan được quy định trong các văn bản pháp luật về thuế. Trong đó, sự tuân thủ thuế của người nộp thuế luôn là một vấn đề được quan tâm nhất.
Tuân thủ thuế của NNT thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác, trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của NNT.