Chương 1: Tổng quan về chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại +Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng tại N gân Hàng TMCP Đông Á. +Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng tại N gân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Huế. -PHẦ III: KẾT LUẬ VÀ KIẾ GHN SVTH: Võ Văn guyên 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths guyễn Thị Trà My PHẦ II. ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA VỀ CHẤT LƯỢ G DNCH VỤ CHO VAY TẠI GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1.
Tổng quan về gân hàng thương mai 1.1 Khái niệm gân hàng thương mại N gân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống N gân hàng Thương mại (N HTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì N HTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. Cùng với sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt N am cũng không ngừng phát triển, kịp thời đáp ứng cho những nhu cầu xã hội, và những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường.
N gân hàng đã trở thành một chủ thể kinh doanh trên thị trường và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cho đến nay, có rất nhiều cách thể hiện khác nhau về khái niệm ngân hàng. Theo khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh của Hội đồng N hà nước số 38-LCT/HĐN N 8 về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 quy định: “N gân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay. thực hiệt nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Theo Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XI.
thông qua ngày 16/6/2010 quy định: “N gân hàng thương mại là loại hình ngân bàn thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Và theo quy định luật các tổ chức tín dụng Việt N am 2010: Hoạt động N gân hàng là việc kinh doanh, cung ứng SVTH: Võ Văn guyên 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths guyễn Thị Trà My thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ toán qua tài khoản. Từ đó, chúng ta có thể hiểu: N gân hàng thương mại là loại hình N gân hàng giao dịch trực tiếp với các khách hàng là các loại hình tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thông qua huy: động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, tiền phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, hay cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên. Thông qua các hoạt động đó thì N gân hàng thương mại tạo ra lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả N gân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho N gân hàng.
Các chức năng của gân hàng thương mại 1. Chắc năng trung gian thanh tín dụng Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của ngân hàng thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đNy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện chức năng này, một mặt ngân hàng thương mại huy động và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế như vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, tiền tiết kiệm của dân cư để hình thành nguồn vốn cho vay, mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được, N gân hàng sử dụng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Khi thực hiện chức năng làm trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã huy động triệt để được các khoản vốn nhàn rỗi, điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đNy quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp.
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại thực sự là một cầu nối giữa những người có tiền muốn cho vay hoặc muốn gửi ở ngân hàng SVTH: Võ Văn guyên 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths guyễn Thị Trà My với những người thiếu vốn cần vay. N gân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích công bằng cho cả ba bên trong quan hệ: người gửi tiền, ngân hàng và người vay. Đối với người gửi tiền: sinh lời được vốn tạm thời nhàn rỗi của mình và được ngân hàng tạo các tiện ích như sự an toàn hoặc cung cấp các phương tiện thanh toán. Đối với người vay: sẽ thỏa mãn được nhu cầu kinh doanh hoặc chi tiêu, thanh toán mà không tốn nhiều công sức, thời gian cho việc tìm kiếm nơi vay tiền tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
Đối với 7gân hàng thương mại: sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở tồn tại và phát triển của N gân hàng thương mại. Chức năng trung gian thanh toán Trong chức năng này, xuất phát từ việc ngân hàng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, các ngân hàng có thể thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự ủy nhiệm của khác hàng. Trong quá trình thanh toán, ngân hàng đã sử dụng tiền giấy thay cho vàng trong quá trình lưu thông, và sau đó là sử dụng những công cụ lưu thông tín dụng thay cho tiền giấy.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được ngân hàng đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi. Trong khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra các công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (séc, giấy chuyển tiền, thẻ thanh toán.) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí về lưu thông. Trong một nền kinh tế phát triển, quy mô thanh toán, số lượng các khoản thanh toán và khoảng cách giữa khách hàng với nhau ngày càng tăng lên nhanh chóng. Việc thanh toán trực tiếp giữa các khách hàng sẽ không thể nào thỏa mãn được yêu cầu của nền kinh tế nếu không có hệ thống ngân hàng thương mại làm chức năng trung gian thanh toán cho các chủ thể của nền kinh tế.
Việc hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán mang một ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung. Trước hết, SVTH: Võ Văn guyên 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths guyễn Thị Trà My hệ thống ngân hàng thương mại sẽ cung cấp cho các chủ thể của nền kinh tế nhiều công cụ thanh toán mang tiện ích cao như: thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền, ngân phiếu, ủy nhiệm chi…để trao cho khách hàng hoặc yêu cầu N gân hàng chi trả hộ, thu hộ các khoản tiền theo ý muốn của mình Tùy theo yêu cầu, khách hàng có quyền lựa chọn một trong những công cụ thanh toán thích hợp. N hờ có các phương thức thanh toán được thực hiện bởi ngân hàng thương mại, các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền đến gặp chủ nợ, gặp người được thụ hưởng dù gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức thanh toán nào đó đơn giản, chẳng hạn như một tờ séc, một ủy nhiệm chi. để giao cho khách hàng hoặc yêu cầu ngân hàng chi trả hộ, thu hộ các khoản tiền theo ý muốn của mình.
Thứ hai, khi sử dụng các phương thức thanh toán, bản thân các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí lao động, thời gian lại an toàn. Hệ thống ngân hàng thương mại cũng tích tụ được nguồn vốn khổng lồ để có thể mở rộng khả năng tín dụng của mình. Chức năng tạo tiền Là chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của N HTM. Mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận chẳng hạn như yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các N HTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của N HTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, N gân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống N HTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. N gân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với N HTM. Do vậy N gân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
SVTH: Võ Văn guyên 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths guyễn Thị Trà My 1. Chức năng thực thi chính sách tiền tệ của nhân hàng trung ương Để thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương (N HTW) thường sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau, trong đó tập trung vào các chính sách chủ yếu như dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở (OMO), lãi suất, công cụ tái cấp vốn, hay kể cả các công cụ mang tính hành chính. Theo lý thuyết, chính sách tiền tệ được xem là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô do N HTW thực hiện.