Luận văn đánh giá đất đai thị xã La Gi - Đề xuất chuyển đổi cơ cấu

Luận văn thạc sĩ quản lý đất đai đánh giá chất lượng đất và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại thị xã La Gi tỉnh Bình Thuận

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

132
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách đánh giá đất đai La Gi để chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp

Đánh giá đất đai La Gi là bước nền tảng trong việc chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp tại địa phương. Nghiên cứu của Thiên Quốc Phúc (2022) đã áp dụng phương pháp đánh giá đất theo tiêu chuẩn FAO (1976, 1985, 2007) để phân tích điều kiện tự nhiên, khả năng sử dụng đất, và hạn chế sinh thái. Thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa thấp, và chịu ảnh hưởng mặn-xâm thực mạnh – những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồnghiệu quả sử dụng đất. Qua khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu GIS, nghiên cứu xác định được các nhóm đất chính như đất cát ven biển, đất phù sa, và đất xám bạc màu. Mỗi nhóm đất có tiềm năng sử dụng khác nhau, đòi hỏi chiến lược chuyển đổi phù hợp. Việc đánh giá đất đai La Gi không chỉ giúp nhận diện tiềm năng mà còn chỉ ra các rào cản như ngập lụt, thiếu nước tưới, và kết von-đá lẫn. Từ đó, các đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất được xây dựng trên cơ sở khoa học, đảm bảo bền vững sinh tháitối ưu kinh tế.

1.1. Phương pháp đánh giá đất theo tiêu chuẩn FAO

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá đất của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), kết hợp phân tích đa tiêu chí như độ dốc, độ sâu tầng đất, khả năng thoát nước, và mức độ xói mòn. Dữ liệu được thu thập từ bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ địa hình, và khảo sát thực địa tại 7 xã/phường của La Gi. Phương pháp này cho phép phân loại đất theo khả năng thích nghi với các loại cây trồng khác nhau, từ đó hỗ trợ ra quyết định chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất một cách chính xác.

1.2. Đặc điểm tự nhiên và hạn chế sinh thái tại La Gi

Thị xã La Gi có độ dốc thấp, nhưng chịu ảnh hưởng mạnh từ ngập lụt ngắn ngàyxâm nhập mặn do gần biển. Theo phụ lục bản đồ trong luận văn, khoảng 30% diện tích đất nông nghiệp bị ngập từ 10–50 cm trong mùa mưa. Ngoài ra, kết von-đá lẫn xuất hiện ở độ sâu 50–125 cm trên nhiều khu vực, làm giảm khả năng canh tác. Những yếu tố này tạo thành rào cản sinh thái lớn, đòi hỏi phải có giải pháp kỹ thuật và quy hoạch phù hợp khi chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp.

II. Thách thức trong chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại La Gi

Việc chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp tại La Gi đối mặt với nhiều thách thức đa chiều, từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội. Một trong những rào cản lớn nhất là thiếu hệ thống tưới tiêu chủ động. Theo bản đồ phân cấp khả năng tưới (Phụ lục 7-7), hơn 60% diện tích đất nông nghiệp chỉ có khả năng tưới hạn chế hoặc không có khả năng tưới. Điều này khiến nông dân phụ thuộc hoàn toàn vào mưa, dẫn đến rủi ro sản xuất cao. Bên cạnh đó, cơ cấu cây trồng hiện tại chủ yếu là lúa, mì, và điều – những loại cây có giá trị kinh tế thấp và không phù hợp với điều kiện đất cát, khô hạn. Nông dân thiếu kiến thức về nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, dẫn đến sử dụng đất không hiệu quả. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ chuyển đổi còn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế khuyến khích và đào tạo kỹ thuật. Những thách thức này nếu không được giải quyết sẽ làm giảm hiệu quả của mọi nỗ lực chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất.

2.1. Hạn chế về hạ tầng thủy lợi và nguồn nước

Hệ thống thủy lợi tại La Gi chưa đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp hiện đại. Nhiều khu vực chỉ dựa vào mạch nước ngầm nông, dễ bị nhiễm mặn vào mùa khô. Việc đầu tư vào hệ thống tưới tiết kiệm nướchồ chứa nhỏ là cần thiết để hỗ trợ chuyển đổi sang các loại cây trồng có giá trị cao hơn như thanh long, nho, hoặc rau màu.

2.2. Rào cản về nhận thức và năng lực sản xuất của nông dân

Nông dân tại La Gi chủ yếu canh tác theo kinh nghiệm truyền thống, thiếu tiếp cận kỹ thuật mới và thông tin thị trường. Nhiều hộ chưa hiểu rõ lợi ích của việc chuyển đổi cây trồng phù hợp với đất đai, dẫn đến do dự hoặc phản đối các đề xuất quy hoạch. Do đó, đào tạo nông dânxây dựng mô hình trình diễn là yếu tố then chốt để thúc đẩy chuyển đổi thành công.

III. Phương pháp chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp hiệu quả tại La Gi

Để chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp tại La Gi một cách hiệu quả, cần áp dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, kết hợp giữa khoa học đất, kinh tế nông nghiệp và quy hoạch không gian. Nghiên cứu của Thiên Quốc Phúc (2022) đề xuất phân vùng sử dụng đất theo khả năng thích nghi, dựa trên kết quả đánh giá đất. Ví dụ, các khu vực gần biển, đất cát, có nguy cơ xâm nhập mặn cao nên chuyển sang nuôi trồng thủy sản kết hợp hoặc trồng cây chịu mặn như dừa, bần. Khu vực có khả năng tưới tương đối chủ động (theo bản đồ Phụ lục 7-7) có thể phát triển cây ăn quả có múi, rau an toàn, hoặc hoa công nghệ cao. Đồng thời, cần giảm diện tích lúa nước ở vùng ngập lụt, thay bằng lúa cạn hoặc cây họ đậu cải tạo đất. Phương pháp này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích mà còn giảm áp lực lên tài nguyên nước và đất.

3.1. Phân vùng sử dụng đất theo khả năng thích nghi

Dựa trên bản đồ đánh giá đất đai La Gi, nghiên cứu chia đất nông nghiệp thành 4 nhóm: (1) đất thích hợp cho cây lâu năm, (2) đất thích hợp cho cây hàng năm có tưới, (3) đất hạn chế cần cải tạo, và (4) đất không phù hợp cho nông nghiệp. Mỗi nhóm được gán loại cây trồng khuyến nghị, giúp định hướng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất một cách khoa học và có hệ thống.

3.2. Ứng dụng nông nghiệp thông minh và tiết kiệm nước

Để thích ứng với điều kiện khô hạn, nông nghiệp thông minh như tưới nhỏ giọt, cảm biến độ ẩm, và nhà lưới cần được khuyến khích. Các mô hình này giúp tối ưu hóa sử dụng nước, giảm chi phí và tăng năng suất. Đặc biệt, thanh long ruột đỏ – loại cây đã thành công ở Bình Thuận – có thể mở rộng tại La Gi nếu kết hợp với hệ thống tưới hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu đánh giá đất La Gi

Kết quả đánh giá đất đai La Gi đã được ứng dụng vào quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021–2030 của thị xã. Cụ thể, UBND thị xã La Gi đã điều chỉnh giảm 15% diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả, chuyển sang cây ăn quả và rau màu tại các xã Tân Hải, Tân Tiến và Phước Lộc. Tại xã Tân Hải, mô hình trồng nho kết hợp du lịch sinh thái đã cho thu nhập gấp 3–4 lần so với lúa. Ngoài ra, các khu vực ngập lụt như Tân Phước được khuyến nghị chuyển sang nuôi tôm – lúa luân canh, tận dụng điều kiện thủy văn tự nhiên. Nghiên cứu cũng đề xuất cải tạo đất xám bạc màu bằng phân hữu cơ vi sinh và trồng cây phân xanh, giúp phục hồi độ phì. Những ứng dụng này chứng minh rằng chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp dựa trên đánh giá khoa học mang lại hiệu quả kinh tế – sinh thái rõ rệt.

4.1. Mô hình chuyển đổi thành công tại xã Tân Hải

Tại xã Tân Hải, hơn 50 ha đất lúa năng suất thấp đã được chuyển sang trồng nho đỏ và nho xanh. Nhờ đất cát thoát nước tốt và khí hậu nắng nhiều, nho La Gi đạt chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng. Mô hình này kết hợp du lịch vườn, tạo thêm thu nhập cho nông dân và thúc đẩy phát triển nông thôn mới.

4.2. Đề xuất cải tạo đất xám bạc màu và đất ngập

Đối với đất xám bạc màu, nghiên cứu khuyến nghị sử dụng phân bón hữu cơ, luân canh cây họ đậu, và che phủ đất để cải thiện độ phì. Với đất ngập lụt, giải pháp là lúa – tôm luân canh hoặc nuôi cá nước ngọt, tận dụng thời gian ngập ngắn ngày để tăng thu nhập thay vì bỏ hoang.

V. Tương lai của chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp ở La Gi

Tương lai của chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp tại La Gi phụ thuộc vào sự đồng bộ giữa chính sách, khoa học và thực tiễn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, việc tiếp tục đánh giá đất đai La Gi định kỳ là cần thiết để cập nhật biến động về độ mặn, ngập lụt, và suy thoái đất. Hướng đi chiến lược là phát triển nông nghiệp thích ứng khí hậu, nông nghiệp tuần hoàn, và liên kết chuỗi giá trị. Các loại cây như dừa xiêm, bơ booth, và rau hữu cơ có tiềm năng lớn nếu được hỗ trợ về giống, kỹ thuật và thị trường. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai số để quản lý và ra quyết định nhanh chóng. Với tiềm năng tự nhiên và kinh nghiệm từ các mô hình tiên phong, La Gi hoàn toàn có thể trở thành điểm sáng trong chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Nam Trung Bộ.

5.1. Vai trò của công nghệ và dữ liệu trong quản lý đất

Việc số hóa bản đồ đất đai, tích hợp với cảm biến môi trườngAI dự báo năng suất, sẽ giúp nông dân và chính quyền ra quyết định chính xác hơn. Hệ thống thông tin địa lý (GIS)viễn thám cần được áp dụng thường xuyên để theo dõi biến động sử dụng đất và hiệu quả chuyển đổi.

5.2. Định hướng cây trồng chiến lược cho La Gi đến 2030

Các cây trồng chiến lược được khuyến nghị bao gồm: thanh long ruột đỏ, nho, dừa, bơ, và rau an toàn. Những loại cây này phù hợp với điều kiện đất cát, khí hậu khô, và có giá trị thương mại cao. Việc xây dựng thương hiệu nông sản La Gi sẽ là chìa khóa để nâng cao thu nhập và cạnh tranh trên thị trường.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý đất đai đánh giá đất đai và đề xuất chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thị xã la gi tỉnh bình thuận

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đất, đất đai và đánh giá đất đai 1. Dat, đất đai và đánh giá đất đai 1.William, đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản pham cay trồng. Theo Docutraev: Dat là vật thé tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tổ sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người (Trích theo Viện QH và TKNN, 2009).

- Theo Hội Khoa học Dat Việt Nam, 2015: Phân loại dat là nghiên cứu, đặt tên cho dat và sắp xếp chúng theo một trật tự thứ bậc nhất định dựa trên một sé đặc điểm về hình thái, đặc tính lý, hóa học của đất. Đất đai và phân loại sử dụng đất Theo Luật Đất đai 2013: - Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ôn định hoặc thay đổi nhưng có tinh chu kỳ, có thé dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con nguoi. - Căn cứ vào mục đích sử dung, dat dai được phân loại thành 03 nhóm đất chính như sau: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng. Trong đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất, như: Đất trồng cây hàng năm; Dat trồng cây lâu năm; Dat rừng sản xuất; Dat rừng phòng hộ: Dat rừng đặc dụng; Dat nuôi trồng thủy sản; Dat làm muối; Đất nông nghiệp khác.

Đánh giá đất đai Theo FAO, 1976 và Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2015: - Đất đai (Land): Về mặt địa lý đất đai là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái dat có những đặc tính mang tính ôn định, hay có chu kỳ dy đoán được trong khu vực sinh khí quyên theo chiều thang từ trên xuống đưới, trong đó bao gồm: Không khí, đất, lớp địa chất, nước, quan thé thực vật và động vật, kết quả của những hoạt động bởi con người. - Kiểu sử dụng đất đai chính (Major kind of Land use): Là phan phân nhỏ chủ yếu của sử dụng đất nông nghiệp như: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác. - Loại sử dụng đất đai (Land Utilization Type - LUT): Một kiểu sử dụng đất đai được miêu tả hay xác định theo mức độ chi tiết kiểu sử dụng đất chính. Loại sử dụng đất có liên quan tới mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc hệ thống cây trồng với các phương pháp quản lý và tưới xác định trong môi trường kỹ thuật và kinh tế xã hội nhất định.

- Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement - LUR): Là những điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến năng suất và sự 6n định của loại sử dụng đất đai hay đến tình trạng quản lý và thực hiện loại sử dụng đất đai đó. Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu. - Đánh giá đất đai (Land Evaluation): Là quá trình so sánh, đối chiếu những thuộc tính vốn có của từng đơn vị đất đai với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất nhất định cần có. Đánh giá đất đai nhằm cung cấp những thông tin về mức độ thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng đất đai, làm căn cứ đưa ra những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai.

- Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU): Là một khoanh/vạt đất được xác định trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và chất lượng tính chất đất đai riêng biệt thích hợp cho từng loại sử dụng đất, có cùng một điều kiện quản lý đất, cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất. Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng riêng và nó thích hợp với một loại sử dụng đất nhất định. - Ban đồ đất (Land Mapping): Là một bản đồ đất chuyên ngành, thé hiện sự phân bố không gian của các đơn vị dat. No phan ánh thực trạng tài nguyên dat của một vùng lãnh thô.

- Đặc trưng đất đai (Land Characteristic - LC): Là một thuộc tính của đất mà có thé đo lường hoặc ước lượng trong quá trình điều tra bao gồm cả sử dụng viễn thám, điều tra thông thường cũng như bằng cách thống kê tài nguyên thiên nhiên như: Loại đất, độ dốc, tầng dày, lượng mưa, độ âm, điều kiện tưới, điều kiện tiêu nước. - Chất lượng đất đai (Land Quality - LQ): Là thuộc tính của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đất đai đối với một kiêu sử dụng cụ thể như: Đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa (loại đất), độ đốc (0 - 3°; >3 - 8°;. - Thích hợp đất đai (Land Suitability): Là sự phù hợp của một loại đất đai nhất định đối với một loại sử dụng đất cụ thê. Tổng quan phương pháp đánh giá đất của FAO 1.

Những nguyên tắc của đánh giá đất theo FAO - Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại hình sử dụng đất cụ thé. - Việc đánh giá đòi hỏi có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau. - Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học. - Việc đánh giá đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu.

- Khả năng thích hợp đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được dùng dé quyết định. - Đánh giá đất bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều loại sử dụng đất. Tiến trình đánh giá đất của FAO Tiến trình đánh giá dat đai chia thành 3 giai đoạn chính: (1) Giai đoạn chuẩn bị, (2) Giai đoạn điều tra thực tế, (3) Giai đoạn xử lý các số liệu và báo cáo kết quả. Trong mỗi giai đoạn có 3 nhóm công việc riêng biệt như sau: 3 Xác 1 2 |ƒ| amb | s 6 7 8 9 Xác Thu a Đánh Xác định Xác Quy Áp định ly thập |_| inh str bị giá khả Lại hiện trạng Lại định loại LÍ hoạch Bá) dụng mye ti 4 năng KT-XH sử dụng str kết qua bày i Xác thích và môi đất thích | | dung đánh định hợp trường hợp nhất đất giá đất L»,| ` 1 đơn vị đất đai Hình 1.

Tiến trình đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất. - Nhóm công việc liên quan đến sử dụng đất: Điều tra, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, nghiên cứu các loại hình và hệ thống sử dụng đất, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường của các hệ thống sử dụng đất, lựa chọn các hệ thống sử dụng dat và loại hình sử dung dat có triển vọng dé đánh giá. - Nhóm công việc liên quan đến đất đai: Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên có liên quan đến sử dụng đất (khí hậu, dat, địa hình địa mạo, thực vat,.), lựa chọn va phân cấp các chỉ tiêu cho bản đồ đất đai, khoanh định các đơn vi đất đai phục vu cho việc đánh giá. - Nhóm công việc liên quan đến đất đai và sử dụng đất: So sánh và kết hợp giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất đai để phân định các mức độ thích hợp của các đơn vị đất đai cho từng loại hình sử dụng đất.

Tiên trình các bước công việc như sau: Giai đoạn 1: Đánh giá đất đai, gồm bảy bước: Từ bước 1 đến bước 7. Giai đoạn 2: Áp dụng kết quả đánh giá đất dai, gồm hai bước: 8 và 9 1. Cấu trúc phân hạng và phương pháp xác định mức thích nghỉ a) Cấu trúc phân hạng Cấu trúc tông quát của phân loại kha năng thích nghỉ đất đai gồm 4 cấp: Bộ (Orders) > Lớp (Classes) Lớp phụ (Sub-classes) > Don vi (Units). Bộ thích nghỉ đất dai được chia làm 3 lớp: S1 (thích nghỉ cao), S2 (thích nghi trung bình), S3 (thích nghi kém).

Bộ không thích nghỉ dat đai được chia làm 2 lớp: NI (không thích nghi hiện tại) và N2 (không thích nghỉ vĩnh viễn). Cấp phân vị (Category) Bộ (Order) Lóp(Class) Lớp phụ (Sub-class) Don vi (Unit) S: thich nghi Si ee S1 Sz/d-1 S; S/d —==— Sz/d-2 S3 ¬ S2/sl S2/d-3 So/r N (khong thich nghi) Ni Nư1 Na == Ni/d Ni/r i: Kha nang tưới; d: Độ day tang dat; sl: Độ dốc, r: Luong mua d-1:D6 day tang dat 50-70 cm; d-2:30- 50 cm; đ-3:<30 em SI: rất thích nghỉ; S2: thích nghỉ trung bình; S3: ít thích nghĩ NI: không thích nghỉ hiện tại; N2: không thích nghỉ vĩnh viễn Mức độ thích nghi được xác định bằng cách kết hợp giữa yêu cầu đất đai của các loại hình sử dụng đất với tính chất đất đai và được xét theo phương pháp hạn chế tối đa. Nghĩa là, mức độ thích nghi của mỗi một loại hình sử dụng đất được xác định bởi yếu tố đất đai có mức độ hạn chế cao nhất. Tiêu chuẩn xác định mức thích nghi đất đai đối với một loại hình sử dụng đất (LUT) được dựa vào 3 chỉ tiêu: (i) Năng suất mà LUT đó có thé đạt được.

(ii) Tý suất lãi và (iii) Mức đầu tư cần thiết dé thực hiện LUT đó (Bang 1. Một số chỉ tiêu dùng dé xác định loại thích nghi (FAO, 1976). LOẠI CHÍ TIỂU XÁC ĐỊNH THÍCH NGHI Năng suất (*) Tỷ suất lãi Xác định về đầu tư S1 (Thích nghi cao) >80% 1,5 lan Chi phi dau tu thap S2 (Thích nghi TB) 40 - 80% 0,8 - 1,5 lần chấn rên ch, có the chap Nhiều loại dau tư cần thiết, có thé S3 (Ít thích nghĩ) 20 - 40% 0,5 - 0,7 lần thực hiện được nhưng không có hiệu quả về kinh tế Nếu không có biện pháp cải tạo và quản trị đất thích nghi thì dù N (Không thích nghĩ) <20% <0,5 lần có đầu tư lớn cũng không thực hiện được (*) Mức nang suất so với năng suất tối da mà một LUT có thé đạt được. b) Phương pháp xác định mức thích nghỉ Theo tổng kết của FAO có 4 phương pháp phô biến có thé vận dụng là: (1) Phương pháp kết hợp các điều kiện hạn chế: Đây là phương pháp sử dụng theo cấp hạn chế cao nhất dé kết luận khả năng thích nghỉ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ