ĐẶT VẤN ĐỀ 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất đai không chỉ là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Việt Nam hiện nay được coi là một trong những nước có nền kinh tế thị trường phát triển năng động, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chế độ trính trị ổn định. Thực hiện đường lối công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN.
Nhà nước ta đang tập trung các nguồn lực vào phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng. Các dự án đầu tư ngày một tăng, kèm theo đó là tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trên cả nước là cơ sở thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển. Sau hơn 20 năm đổi mới toàn diện, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, nhịp độ kinh tế nhanh, tăng trưởng khá, ổn định, bền vững, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới thời kỳ côn nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần tạo điều kiện phát huy nguồn lực để đầu tư phát triển. Các dự án ngày càng tăng kèm theo đó là tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trên cả nước, kéo theo nhiều sự thay đổi như tạo sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất công nghiệp, dịnh vụ và đô thị ngày càng lớn.
Trước thực trạng như vậy công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng đang rất được xã hội quan tâm. Bồi thường và giải phóng mặt bằng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của tổ chức cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế chính trị - xã hội của địa phương khi tái định cư cho người dân. Bồi thường giải phóng mặt bằng là một lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá cả đền bù hợp lý cho người dân, tái định cư và giải quyết hậu quả khi giải phóng mặt bằng. Do vậy cần áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào điều kiện thực tế ở địa phương.
Ngoài ra khung giá bồi 2 thường của Nhà Nước thấp hơn so với giá thị trường thường xuyên biến động và có chiều hướng gia tăng. Người dân không chấp nhận mức giá đó, họ cho rằng mức đền bù đó là chưa thỏa đáng,do đó các hộ không tự nguyện di chuyển trao trả đất cho dự án. Trong việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi công ăn việc làm, cũng như tiến độ xây dựng khu tái định cư phục vụ dự án diễn ra chậm. Điều đó đã làm chậm tiến độ GPMB, ảnh hưởng nhiều đến thời gian hoàn thành dự án.
Với dân số ngày càng tăng, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn. Thực tế qua nhiều dự án cho thấy công tác GPMB vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khó khăn. Mặc dù Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp quy phục vụ cho công tác này như nghị định số 197/NP-CP về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định trên. Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất, thông tư số 114/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định số 188/2004/NĐ-CP.
Nhưng để dung hoà giữa quyền lợi của người dân với lợi ích chung không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Do đó, cần có một cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện hơn về công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng, từ đó tìm ra những khó khăn và thuận lợi. Rồi đưa ra những giải pháp có tính khả thi để giải quyết những khó khăn đó một cách hiệu quả nhất tạo sự chặt chẽ trong việc quản lí nhà nước về đất đai và phát triển nền kinh tế của nước nhà. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TH.S Nguyễn Quý Ly em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng khu tái định cư dự án đường cao tốc xuyên Á Nội Bài - Lào Cai đoạn đi qua Thôn Cổng Trào Xã An Thịnh - Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 - 2012” 1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI “Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng khu tái định cư dự án đường cao tốc xuyên Á Nội Bài - Lào Cai đoạn đi qua Thôn Cổng Trào Xã 3 An Thịnh - Huyện Văn Yên – Tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 - 2012”.
Đặc biệt là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng từ đó tìm ra: + Những thuận lợi trong công bồi thường GPMB + Những khó khăn và các vấn đề tồn tại trong công tác bồi thường GPMB Đề xuất phương án và giải pháp có tính khả thi, rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng,giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai ngày càng hiệu quả,minh bạch.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI - Nắm vững luật đất đai hiện hành,các nghị định, thông tư có liên quan đến công tác bồi thường GPMB,hỗ trợ tái định cư cho người dân sau khi GPMB. - Nắm chắc khung giá bồi thường của chính phủ, địa phương và các quyết định có liên quan. - Điều tra thu thập kết quả công tác bồi thường GPMB đưa ra những đánh giá. - Đề xuất những phương án, những giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu.
- Các giải pháp đưa ra phải có tính khả thi và phù ới thực tế địa phương.4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI - ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ sung những kiến thức đã học trên lớp; học hỏi tiếp cận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế nhằm hiểu rõ hơn về công tác quản lý nhà nước về đất đai cụ thể là công tác bồi thường GPMB, hỗ trợ tái định cư. - ý nghĩa thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra được những thuận lợi khó khăn trong công tác bồi thường GPMB của dự án để từ đó rút ra những giải pháp khắc phục, góp phần đẩy nhanh tiến độ của dự án ở hiện tại và trong tương lai. 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GPMB 2.1 Khái niệm về giải phóng mặt bằng “Đất ngày càng có giá trị cao, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng lên,đồng thời nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và phát triển cơ sở hạ tầng rất mạnh. Vì vậy, việc thu hồi đất là không tránh khỏi.
Từ thực tiễn công tác GPMB ở Việt Nam ta có thể nêu ra một khái niệm như sau: GPMB là quá trình nhà nước thu hồi đất của các đối tượng sử dụng đất (tổ chức, cá nhân, hộ gia đình) chuyển giao cho chủ dự án tổ chức di dời các đối tượng như nhà ở, cây cối hoa màu, công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trả lại mặt bằng để thi công công trình trên cơ sở bồi thường thiệt hại, ổn định cuộc sống cho các đối tượng phải di dời. Công tác GPMB là việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế. - Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất đã được giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 (theo khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003). - Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (theo khoản 6, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003).
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí di dời đến địa điểm mới (theo khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003). - Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bố trí chỗ ở mới cho các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất đang ở để giao cho người khác sử dụng. Đặc điểm của công tác giải phóng mặt bằng - Bồi thường GPMB mang tính đa dạng và phức tạp, nó thể hiện sự khác nhau giữa các dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội. Chính vì vậy, công tác bồi thường GPMB có các đặc điểm sau: - Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và trình độ dân trí nhất định.
Đối với khu vực nội thành, nội thị, mức độ tập trung cao, ngành nghề của dân cư đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến công tác GPMB có đặc trưng nhất định. Đối với khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ… quá trình GPMB cũng có những đặc trưng riêng của nó. Đối với khu vực ngoại thành hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp, do đó GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt. - Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân.
Ở khu vực nông thôn thì dân cư chủ yếu sống vào hoạt động nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất trong khi trình độ sản xuất lại thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp lại rất khó khăn, do đó tâm lí của người dân vùng này là giữ đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn thu được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê. Mặt khác do tập quán canh tác và sinh hoạt nên đa phần người dân đều không muốn mất đi mảnh đất cha ông để lại.