CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của công tác chuyển quyền sử dụng đất 1. Đất đai, sở hữu đất đai 1. Đất đai Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người cùng các sinh vật khác trên trái đất.
“Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên vỏ và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dáng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy.) và các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những công trình của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Như vậy, đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, bao gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Theo chiều nằm ngang trên mặt đất, đất đai là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng các thành phần khác và giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của con người (Phan Thị Thanh Huyền và cs, 2020).
Sở hữu đất đai Theo từ điển Luật học (2006), sở hữu là quan hệ xã hội thông qua đó xác định tài sản thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản trong 4 xã hội. Sở hữu được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cách thức (cơ chế) nhất định gọi là chế độ sở hữu hay loại hình sở hữu. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ tài sản; quyền sử dụng là quyền sử dụng tài sản; quyền định đoạt là quyền cho mượn, cho thuê, bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy, từ bỏ quyền sở hữu.
Từ khái niệm chung về sử hữu có thể hiểu, sở hữu đất đai là quan hệ xã hội thông qua đó xác định đất đai thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Quyền sở hữu đất đai cũng như quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai và quyền định đoạt đối với đất đai (Phan Thị Thanh Huyền và cs, 2020). Các hình thức sở hữu đất đai bao gồm sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước, sở hữu cá nhân, sở hữu toàn dân. về đất đai.
Tại Việt Nam, trước khi Hiến pháp năm 1980 có hiệu lực, cũng giống như một số nước khác trên thế giới, Nhà nước thừa nhận nhiều hình thức sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân đối với đất đai. Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2012 và Luật Đất đai năm 2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). Hiện nay, ở Việt Nam quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên tổ chức, cá nhân, hộ gia đình chỉ có quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất (QSDĐ) Việt Nam đã tạo nên nét đặc thù trong các giao dịch về QSDĐ nói chung và giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) nói riêng.
Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước thông qua hệ thống bộ máy được thiết lập từ trung ương tới địa phương có quyền định đoạt đất đai (Nguyễn Văn Khánh, 2013; Duy và cs, 2020). Thực tiễn đã chứng minh, đất đai chỉ có thể phát huy vai trò vốn có của nó dưới tác động của con người để tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phục vụ đời sống cho mình. Sự chuyển 5 dịch đất đai từ chủ thể sử dụng này sang chủ thể sử dụng khác là một quy luật tất yếu. Hồ sơ địa chính; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 1.
Hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách,. chứa đựng những thông tin cần thiết về mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất ban đầu và đăng ký biến động đất đai và tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận nhằm phục vụ quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất, việc quản lý tài sản gắn liền với đất (Nguyễn Đình Bồng, 2012). Theo Điều 3, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khái niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự thay đổi theo thời gian.
Cụ thể, Luật Đất đai năm 2003 quy định. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Theo Luật đất đai năm 2013, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho người 6 có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một loại mẫu thống nhất trong cả nước.
Quyền sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất 1. Quyền sử dụng đất Khái niệm về quyền sử dụng đất chưa được quy định cụ thể trong Luật Đất đai. Để đưa ra khái niệm về quyền sử dụng đất cần căn cứ vào khái niệm quyền sử dụng tài sản theo Điều 189 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, quyền sử dụng tài sản là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Do quyền sử dụng đất cũng là loại tài sản đặc biệt nên từ khái niệm này, có thể hiểu, quyền sử dụng đất là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai khi người sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hay công nhận quyền sử dụng đất. Trong điều kiện đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân và không thể phân chia thì làm thế nào để người dân thực hiện được quyền của mình? Để người dân có thể khai thác, sử dụng đất đai có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống mà không làm mất đi ý nghĩa tối cao của tính toàn dân, không mất đi vai trò quản lý với tư cách đại diện chủ sở hữu của Nhà nước? Khái niệm “Quyền sử dụng đất” của “người sử dụng đất” chính là sự sáng tạo pháp luật, giải quyết được mâu thuẫn nói trên và làm hài hòa được các lợi ích của quốc gia, Nhà nước và mỗi người dân (Phan Thị Thanh Huyền và cs, 2021b). Thị trường quyền sử dụng đất Một thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi (Robert và Daniel, 1994). Hay nói cách khác.
thị trường là nơi trao đổi hàng hoá được sản xuất ra, cùng với các quan hệ kinh tế giữa người với người, liên kết với nhau thông qua trao đổi hàng hoá. Thị trường hiểu theo nghĩa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá cùng quan hệ kinh tế và mối 7 liên kết kinh tế giữa người với người để từ đó liên kết họ với nhau. Thị trường hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ khu vực và không gian trao đổi hàng hoá. Một số quy định chung về chuyển quyền sử dụng đất Nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất Nguyên tắc chuyển quyền sử dụng đất được quy định như sau.
- Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác sử dụng đất được pháp luật cho phép chuyển quyền sử dụng đất mới có quyền chuyển quyền sử dụng đất. - Khi chuyển quyền sử dụng đất, các bên có quyền thoả thuận về nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất nhưng phải phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai. - Bên nhận chuyển quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở địa phương tại thời điểm chuyển quyền sử dụng đất. Điều kiện để được thực hiện các quyền của người sử dụng đất Điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất là một nội dung mới được quy định tại Luật Đất đai năm 2013, cụ thể.
- Tại Điều 188 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất. - Tại Điều 189 quy định về điều kiện được bán tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm. - Tại Điều 190 quy định về điều kiện chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp. - Tại Điều 191 quy định về những trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.