Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý đất đai của tác giả Ngân Văn Thành (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, bảo vệ năm 2015 dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Khắc Thái Sơn) thực hiện nghiên cứu thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với đất đai cấp cơ sở. Đề tài được xây dựng dựa trên bối cảnh đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu sử dụng đất không ngừng gia tăng do áp lực gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là chứng thư pháp lý cao nhất xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tạo hành lang pháp lý để người dân an tâm canh tác, đầu tư sản xuất, đồng thời là công cụ giúp cơ quan quản lý nhà nước nắm chắc quỹ đất, thiết lập trật tự kỷ cương và xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hiệu quả. Tại xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa – một địa bàn miền núi vùng cao có điều kiện tự nhiên và giao thông phức tạp, việc triển khai cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2010 đến tháng 6 năm 2014 đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách cần được đánh giá một cách có hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm góp phần làm tăng tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đảm bảo các quyền của người sử dụng đất, cũng như nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã Văn Nho.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu hiện trạng và công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã Văn Nho giai đoạn 2010 – 6/2014.
- Nghiên cứu tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Văn Nho giai đoạn 2010 – 6/2014.
- Đánh giá sự hiểu biết của người dân địa phương về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ hoạt động trong công tác cấp GCNQSDĐ cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất trên địa bàn xã Văn Nho. Phạm vi không gian được giới hạn trong địa giới hành chính xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi thời gian nghiên cứu các mốc số liệu thống kê quản lý đất đai tập trung trong giai đoạn 2010 đến tháng 6 năm 2014; thời gian tác giả trực tiếp điều tra, thu thập tài liệu tại địa phương kéo dài từ ngày 18/08/2014 đến ngày 31/11/2014.
Cơ sở pháp lý, lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, cụ thể là 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại khoản 2 Điều 6. Nghiên cứu xác định đăng ký đất đai (theo khoản 19 Điều 4 Luật Đất đai 2003) và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai 2003) là nội dung tiền đề để hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính (bao gồm bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê và sổ theo dõi biến động đất đai theo Điều 47 Luật Đất đai 2003 và Điều 40 Nghị định 181/2004/NĐ-CP).
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và sử dụng làm căn cứ chuyên môn bao gồm:
- Văn bản cấp Trung ương: Luật Đất đai 2003; Chỉ thị 05/2004/CT-TTg; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 và Nghị định số 44/2008/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về cấp GCNQSDĐ; Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT; Thông tư số 117/2004/TT-BTC; Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT; Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT; Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT; Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT; Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT và Quyết định 08/2006/QĐ-BTNMT; các Công văn số 145/TCQLĐĐ-CĐKTK (2011), 529/TCQLĐĐ-CĐKTK (2011), 717/BTNMT-TCQLĐĐ (2012), 2419/BTNMT-TCQLĐĐ (2012), 2470/BTNMT-TCQLĐĐ (2012), 4167/BTNMT-TCQLĐĐ (2013).
- Văn bản địa phương: Quyết định số 2072/2010/QĐ-UBND và Quyết định số 84/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa; Hướng dẫn số 36/HD-STNMT năm 2011 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa; Quyết định số 87/QĐ-UBND năm 2010 và Kế hoạch số 201/KH-UBND năm 2011 của UBND huyện Bá Thước; Kế hoạch số 34/KH-UBND năm 2012 của UBND xã Văn Nho về cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ theo hệ thống bản đồ địa chính.
Khóa luận trình bày trình tự, thủ tục đăng ký, cấp GCNQSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Văn Nho theo các bước và trách nhiệm phối hợp liên ngành:
| Cơ quan / Người thực hiện |
Thủ tục, trách nhiệm thực hiện |
| Hộ gia đình, cá nhân |
Nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND xã. |
| Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã |
Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ; nếu đầy đủ, hợp lệ thì chuyển cho Ban Địa chính xã. |
| Ban Địa chính & UBND cấp xã |
Thẩm tra, xác nhận tình trạng tranh chấp thửa đất vào đơn; công bố công khai danh sách đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp giấy tại trụ sở xã trong 15 ngày; chuyển hồ sơ lên Văn phòng Đăng ký QSDĐ huyện. |
| Văn phòng Đăng ký QSDĐ cấp huyện |
Kiểm tra, xác nhận vào đơn; gửi 01 bộ sao hồ sơ đến cơ quan thuế (trong thời hạn 2 ngày làm việc). |
| Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện |
Kiểm tra hồ sơ, ghi ý kiến, hoàn thiện thủ tục trình UBND huyện ký GCNQSDĐ (trong 5 ngày làm việc). |
| UBND cấp huyện & UBND cấp xã |
UBND huyện ban hành quyết định cấp giấy; UBND xã thông báo cho hộ gia đình, cá nhân đến bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để nhận GCNQSDĐ. |
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp (báo cáo kinh tế - xã hội, hồ sơ địa chính, sổ cấp giấy, bản đồ địa chính xã Văn Nho), phương pháp nghiên cứu văn bản pháp luật, và phương pháp điều tra xã hội học sơ cấp: thực hiện phát phiếu phỏng vấn trực tiếp tại 15 xóm thuộc xã Văn Nho với dung lượng mẫu mỗi xóm từ 8 đến 9 hộ, tổng cộng đạt 130 hộ gia đình, cá nhân. Dữ liệu sau thu thập được tổng hợp, xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của khóa luận gồm 4 phần chính tương ứng với kết cấu nội dung học thuật:
Phần 1: Mở đầu
Tác giả xác định tính cấp thiết của công tác quản lý và cấp chứng thư pháp lý về đất đai trong bối cảnh quỹ đất cố định nhưng nhu cầu tăng cao; xác lập hệ thống 1 mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu nghiên cứu và nêu rõ ý nghĩa thực tiễn của đề tài đối với hoạt động quản lý nhà nước tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết hệ thống cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đất đai, chức năng của GCNQSDĐ và hồ sơ địa chính. Tác giả phân tích cụ thể các điều kiện được cấp giấy (có giấy tờ hợp pháp quy định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003 hoặc không có giấy tờ nhưng sử dụng ổn định được UBND xã xác nhận không có tranh chấp), quy tắc xác định diện tích đất ở và đất vườn ao theo hạn mức địa phương căn cứ Nghị định 198/2004/NĐ-CP. Đồng thời, tác giả thống kê bức tranh cấp GCNQSDĐ toàn quốc đến ngày 30/09/2013 (đất sản xuất nông nghiệp đạt 82,1%; đất lâm nghiệp đạt 62,0%; đất nuôi trồng thủy sản đạt 68,3%; đất ở đô thị đạt 60,9%; đất ở nông thôn đạt 76,0%) và phân tích những nguyên nhân làm chậm tiến độ cấp giấy tại tỉnh Thanh Hóa như hồ sơ thất thoát, sai lệch bản đồ, vi phạm đất đai và việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn nhiều bất cập.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương nêu chi tiết đối tượng, phạm vi địa giới và thời gian biểu nghiên cứu. Xác lập 4 nội dung nghiên cứu chuyên sâu (điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; hiện trạng và công tác quản lý đất đai; đánh giá kết quả cấp giấy theo từng loại đất và chủ thể; điều tra sự hiểu biết của nhân dân). Trình bày chi tiết cách thức triển khai phương pháp thu thập số liệu sơ cấp qua 130 phiếu khảo sát tại 15 xóm và phương pháp xử lý số liệu thống kê.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn diện các số liệu điều tra thực địa tại xã Văn Nho:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Xã Văn Nho nằm cách thị trấn huyện Bá Thước 21 km về phía Tây Nam; địa hình phức tạp gồm 43% diện tích là đồi núi thoải, 37% đồi núi thấp và 20% bằng phẳng, thung lũng; khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 24 - 27°C, lượng mưa tập trung 75% từ tháng 6 đến tháng 10. Dân số toàn xã là 5.605 người, sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp; hệ thống giao thông có đặc thù chạy vòng tròn nối từ km số 2 trục đường 217 qua 13 thôn bản; suối Kỷ và suối Cha là nguồn cung cấp nước tưới tự chảy chính.
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2013: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.303,55 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 2.831,84 ha (chiếm 85,70%), gồm đất sản xuất nông nghiệp 858,64 ha (đất lúa chiếm 556,07 ha), đất lâm nghiệp 1.923,51 ha (chiếm 58,30% tổng diện tích tự nhiên, gồm rừng sản xuất 1.623,51 ha và rừng phòng hộ 300,00 ha), đất nuôi trồng thủy sản 2,28 ha.
- Đất phi nông nghiệp: 287,73 ha (chiếm 8,70%), bao gồm đất ở 177,17 ha, đất chuyên dùng 35,56 ha (đất quốc phòng 20,00 ha), đất nghĩa địa 12,00 ha, đất sông suối mặt nước chuyên dùng 32,27 ha.
- Đất chưa sử dụng: 183,98 ha (chiếm 5,60%), chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng (177,59 ha).
| Nhóm loại đất |
Diện tích (ha) |
Tỷ lệ cơ cấu (%) |
| 1. Đất nông nghiệp |
2.831,84 |
85,70 |
| - Đất sản xuất nông nghiệp (lúa, cây hàng năm, lâu năm) |
858,64 |
25,90 |
| - Đất lâm nghiệp (rừng sản xuất, rừng phòng hộ) |
1.923,51 |
58,30 |
| - Đất nuôi trồng thuỷ sản |
2,28 |
0,07 |
| 2. Đất phi nông nghiệp |
287,73 |
8,70 |
| - Đất ở (chủ yếu là đất ở nông thôn tại 15 xóm) |
177,17 |
3,06 |
| - Đất chuyên dùng, quốc phòng, an ninh, sự nghiệp |
35,56 |
1,06 |
| - Đất nghĩa trang, nghĩa địa |
12,00 |
0,36 |
| - Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng |
32,27 |
1,00 |
| 3. Đất chưa sử dụng |
183,98 |
5,60 |
| - Đất bằng chưa sử dụng |
6,39 |
0,23 |
| - Đất đồi núi chưa sử dụng |
177,59 |
5,37 |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
3.303,55 |
100,00 |
- Thực trạng bộ máy và công tác quản lý đất đai: Xã bố trí 2 cán bộ địa chính có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên; ranh giới hành chính ổn định từ năm 1996 theo Chỉ thị 364/CT; công tác đo vẽ bản đồ hiện trạng sử dụng đất hoàn thành theo Chỉ thị 618/CT-TTg năm 2010.
- Kết quả cấp GCNQSDĐ nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2012:
- Năm 2010: Cấp được 513 giấy chứng nhận với diện tích 102,989 ha trên tổng số 134,582 ha diện tích cần cấp, đạt tỷ lệ 76,50%. Thôn Pọong cấp nhiều nhất (48 giấy), thôn Tổ cấp thấp nhất (18 giấy). Tỷ lệ cấp theo diện tích đạt cao tại thôn Đác (86,20%), Cha Kỉ (85,80%), thấp nhất tại Na Cải (64,60%).
- Năm 2011: Toàn xã cấp được 734 giấy chứng nhận với diện tích 145,568 ha trên tổng số 178,239 ha cần cấp, đạt tỷ lệ 81,60%. Thôn Pọong tiếp tục dẫn đầu với 94 giấy, thôn Tổ đạt 22 giấy. Một số thôn đạt tỷ lệ cấp diện tích cao như Kẻo Hiềng (89,10%), Cha Kỉ (88,50%), Đác (86,50%).
- Năm 2012: Tiếp tục triển khai cấp phát tại các thôn (Xà Luốc cấp 51 giấy/7,200 ha đạt 50,90% diện tích cần cấp; Na Cải cấp 51 giấy/7,200 ha đạt 56,80%; Chiềng Pháng cấp 65 giấy/7,328 ha đạt 47,90%; Kẻo Hiềng cấp 49 giấy/7,200 ha đạt 70,70%; Cha Kỉ cấp 57 giấy/6,200 ha đạt 59,40%; Chiềng Ban cấp 51 giấy/7,200 ha đạt 65,80%).
- Kết quả cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp và đất ở:
- Đất lâm nghiệp: Hoàn thành đo đạc và lập thủ tục cấp giấy cho 810 hộ với 810 giấy, đạt tỷ lệ 100% số hộ nhận giao đất lâm nghiệp (phủ kín 1.923,51 ha rừng).
- Đất nông nghiệp tính chung: Đạt 880/1.244 giấy, tương ứng 70,73% số hộ.
- Tính lũy kế toàn xã cho hộ gia đình, cá nhân: Cấp được 1.244 giấy trên tổng số 1.548 trường hợp, đạt tỷ lệ bao phủ 80,36% số hộ sử dụng đất (tổng số lượng giấy lưu tại sổ theo dõi là 1.109 giấy).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu của khóa luận ghi nhận kết quả thực tế qua hệ thống số liệu quản lý tại địa phương:
- Hoàn thành tuyệt đối công tác giao đất gắn với cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp cho nhân dân, đạt tỷ lệ 100% (810/810 hộ gia đình với diện tích 1.923,51 ha), góp phần ổn định diện tích rừng trồng kinh tế như luồng, xoan, lát, sao đen và nâng cao tỷ lệ che phủ đất trống đồi trọc.
- Công tác cấp GCNQSDĐ nông nghiệp có chuyển biến rõ nét theo các năm: năm 2010 cấp 513 giấy (đạt 76,50% diện tích cần cấp), năm 2011 cấp 734 giấy (đạt 81,60% diện tích cần cấp). Tỷ lệ hộ nông nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 70,73% (880/1.244 hộ).
- Tỷ lệ bao phủ GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn toàn xã đạt mức 80,36% (1.244/1.548 hộ sử dụng đất).
- Bộ máy quản lý gồm 2 cán bộ địa chính đã cơ bản hoàn thiện hệ thống sổ sách theo dõi địa chính: sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp GCNQSDĐ và sổ theo dõi biến động đất đai.
Dựa trên thực trạng khảo sát, tác giả nêu các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể:
- Kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã nhằm giải quyết triệt để các tồn đọng về hồ sơ đo đạc và thủ tục thẩm tra đất đai.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai đến tận 15 thôn bản, chú trọng các thôn vùng sâu vùng xa nơi nhận thức của đồng bào về quyền và nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai còn hạn chế.
- Đơn giản hóa các thủ tục xét duyệt hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND xã, tăng cường sự phối hợp liên ngành giữa Văn phòng Đăng ký QSDĐ huyện và cơ quan thuế để rút ngắn thời gian xử lý nghĩa vụ tài chính cho người dân.
- Đóng góp tự nêu của khóa luận: Phản ánh trung thực tình hình thực hiện Luật Đất đai 2003 tại một xã vùng cao nghèo của huyện Bá Thước; cung cấp dữ liệu định lượng chi tiết đến từng đơn vị cấp thôn, làm cơ sở thực tiễn để UBND xã Văn Nho xây dựng kế hoạch cấp mới và cấp đổi GCNQSDĐ theo bản đồ địa chính dạng số trong các giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ các giới hạn nghiên cứu được xác định rõ qua phạm vi văn bản:
- Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp dừng lại ở mốc tháng 6/2014, chưa bao quát được toàn diện tác động của Luật Đất đai 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014) đối với công tác cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ tại địa phương.
- Thời gian thực tập và triển khai đề tài tương đối ngắn (từ 18/08/2014 đến 31/11/2014), dữ liệu điều tra sơ cấp n = 130 hộ tuy bao phủ 15 xóm nhưng số lượng mẫu trên mỗi xóm (8 - 9 hộ) chỉ ở mức phản ánh sơ bộ, chưa phân tầng sâu theo từng nhóm đối tượng thu nhập hay trình độ học vấn.
- Nguồn tài liệu địa chính cơ sở tại địa phương còn tồn tại tình trạng sai lệch ranh giới giữa bản đồ cũ với thực tế thực địa; nhiều biến động mua bán, chuyển nhượng trao tay qua nhiều năm chưa thực hiện đăng ký sang tên trước bạ, gây khó khăn cho việc đối soát số liệu thống kê.
Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: đánh giá tác động của quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo các văn bản thi hành Luật Đất đai năm 2013; nghiên cứu giải pháp số hóa và đồng bộ cơ sở dữ liệu địa chính từ bản đồ giấy sang phần mềm quản lý đất đai cấp huyện, cấp xã.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng học thuật và quản lý nghiệp vụ:
- Sinh viên các ngành Quản lý đất đai, Địa chính, Quản lý tài nguyên môi trường có thể tham khảo phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học kết hợp đối soát số liệu hành chính cấp xã, đặc biệt là cách thức phân tích dữ liệu đất nông nghiệp và lâm nghiệp tại địa bàn miền núi.
- Cán bộ làm công tác địa chính - nông nghiệp cấp xã, phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện có thể sử dụng cấu trúc khảo sát thực trạng cấp giấy và biểu mẫu phân loại đất theo các đơn vị dân cư thôn/xóm để ứng dụng vào công tác rà soát, thống kê diện tích chưa được cấp chứng thư pháp lý tại các địa phương có địa hình chia cắt.
- Khóa luận là tài liệu lưu trữ phản ánh thực trạng chuyển dịch cơ cấu đất đai và tiến độ xác lập hồ sơ địa chính của xã Văn Nho (huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa) trong giai đoạn chuyển giao pháp lý trước khi áp dụng Luật Đất đai 2013.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu diện tích đất tự nhiên của xã Văn Nho năm 2013 được phân bổ như thế nào?
Tổng diện tích tự nhiên của xã Văn Nho là 3.303,55 ha. Phân bổ theo 3 nhóm đất chính gồm: Đất nông nghiệp chiếm phần lớn với 2.831,84 ha (tỷ lệ 85,70%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 1.923,51 ha và đất sản xuất nông nghiệp chiếm 858,64 ha); Đất phi nông nghiệp là 287,73 ha (tỷ lệ 8,70%, bao gồm 177,17 ha đất ở); Đất chưa sử dụng còn 183,98 ha (tỷ lệ 5,60%, chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng).
2. Quy trình cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân tại xã Văn Nho quy định thời gian xử lý hồ sơ như thế nào?
Theo Bảng 4.1 của khóa luận, quy trình gồm 5 khâu phối hợp. Tại cấp xã, sau khi Ban Địa chính thẩm tra tình trạng tranh chấp, danh sách đủ và không đủ điều kiện phải được công bố công khai tại trụ sở UBND xã trong thời hạn 15 ngày. Tại cấp huyện, Văn phòng Đăng ký QSDĐ gửi hồ sơ sang cơ quan thuế trong thời hạn 2 ngày; Phòng Tài nguyên và Môi trường kiểm tra hồ sơ, ghi ý kiến và trình UBND huyện ký GCNQSDĐ trong thời hạn 5 ngày làm việc.
3. Tiến độ cấp GCNQSDĐ đất sản xuất nông nghiệp tại xã Văn Nho các năm 2010 và 2011 đạt kết quả ra sao?
Năm 2010, toàn xã cấp được 513 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, đạt 102,989 ha trên 134,582 ha cần cấp (tỷ lệ 76,50%); thôn Pọong cấp nhiều nhất (48 giấy), thôn Tổ cấp ít nhất (18 giấy). Năm 2011, tiến độ tăng lên với 734 giấy được cấp, đạt 145,568 ha trên 178,239 ha cần cấp (tỷ lệ 81,60%); thôn Pọong cấp nhiều nhất (94 giấy), thôn Tổ thấp nhất (22 giấy).
4. Kết quả cấp GCNQSDĐ đối với nhóm đất lâm nghiệp tại xã Văn Nho đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Công tác cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp tại xã Văn Nho đạt kết quả tối đa 100%. Sau khi hoàn thành việc đo đạc lại toàn bộ diện tích đất rừng, địa phương đã hoàn thiện hồ sơ đề nghị và cấp giấy chứng nhận cho toàn bộ 810 hộ gia đình, cá nhân nhận rừng sản xuất với tổng diện tích 1.923,51 ha.
5. Phương pháp khảo sát sơ cấp đánh giá sự hiểu biết của người dân được thực hiện với quy mô mẫu như thế nào?
Tác giả đã triển khai điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi đối với 130 hộ gia đình, cá nhân sinh sống trên địa bàn toàn xã Văn Nho. Dung lượng mẫu được phân bổ đồng đều tại 15 xóm, mỗi xóm thực hiện điều tra từ 8 đến 9 hộ gia đình.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Ngân Văn Thành đã tổng kết toàn diện thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 6/2014 với tỷ lệ cấp chung cho hộ gia đình đạt 80,36%, trong đó đất lâm nghiệp hoàn thành 100% và đất nông nghiệp đạt 70,73%. Công trình phản ánh trung thực những nỗ lực kiện toàn hồ sơ địa chính của cấp ủy, chính quyền địa phương, đồng thời chỉ rõ những vướng mắc do đặc thù địa hình đồi núi phức tạp, tài liệu quản lý cũ có sai lệch và nhận thức pháp luật của người dân chưa đồng đều. Hệ thống số liệu điều tra tại 15 thôn bản và 130 hộ dân là cơ sở thực tế có giá trị phục vụ công tác quy hoạch, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các giai đoạn tiếp theo.