Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia đặc biệt, là tư liệu sản xuất chủ yếu và là không gian phân bố các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thị trường hóa đất đai, công tác quản lý nhà nước về đất đai đòi hỏi tính chính xác, minh bạch và đồng bộ cao. Tuy nhiên, tại nhiều địa bàn nông thôn và miền núi, việc quản lý và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập như thủ tục hành chính phức tạp, số liệu hồ sơ qua các thời kỳ thiếu thống nhất và tỷ lệ cấp giấy còn hạn chế.

Xã Phú Đô là một xã miền núi thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Trước năm 2010, việc quản lý đất đai và cấp GCNQSDĐ tại địa phương chủ yếu dựa trên bản đồ giải thửa theo Chỉ thị 299/TTg đo vẽ từ các năm 1985 và 1995 với độ chính xác chưa cao, nhiều diện tích nằm ngoài bản đồ. Giai đoạn 2008 - 2009, xã mới hoàn thành đo vẽ bản đồ địa chính chính quy và chính thức đưa vào sử dụng từ đầu năm 2010. Việc triển khai cấp mới và cấp đổi GCNQSDĐ theo bản đồ chính quy trong giai đoạn 2011 - 2013 đặt ra nhiều thách thức đối với chính quyền cơ sở.

Đề tài "Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Phú Đô - Huyện Phú Lương - Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013" do sinh viên Đoàn Duy Hiếu thực hiện (ngành Quản lý đất đai, Khoa Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Văn Hiểu, năm 2014) nhằm giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn sau:

  1. Đánh giá thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Phú Đô giai đoạn 2011 - 2013 theo bản đồ địa chính chính quy.
  2. Phân tích tình hình quản lý, hiện trạng sử dụng đất và các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến công tác chuyên môn.
  3. Xác định những tồn tại, khó khăn và nguyên nhân cản trở tiến độ cấp GCNQSDĐ tại địa phương.
  4. Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Phú Đô.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đăng ký, xét duyệt và cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (gồm 25 xóm).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thống kê, đánh giá thu thập trong giai đoạn 2011 - 2013. Thời gian triển khai khảo sát thực tế từ ngày 25/06/2014 đến ngày 25/08/2014.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung pháp lý và cơ sở lý luận

Nghiên cứu được thiết lập trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các quy định của địa phương:

  • Hệ thống Luật và Nghị định: Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992; Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 và Luật Đất đai năm 2003 (đặc biệt là Điều 4, 48, 49, 50, 52 quy định về thẩm quyền, nguyên tắc, điều kiện cấp GCNQSDĐ); Nghị định số 64/CP (1993), Nghị định số 02/CP (1994), Nghị định số 60/CP (1994), Nghị định số 85/1999/NĐ-CP, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP, Nghị định số 04/2000/NĐ-CP; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP (Điều 135 quy định quy trình cấp GCNQSDĐ trong thời hạn không quá 55 ngày làm việc); Nghị định số 84/2007/NĐ-CP và Nghị định số 88/2009/NĐ-CP về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
  • Thông tư, Quyết định và Chỉ thị: Quyết định số 499/QĐ-ĐC (1995), Thông tư số 364/1998/TT-TCĐC, Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg, Công văn số 776/CP-NN (1999), Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC của Tổng cục Địa chính; Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT, Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT, Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT, Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Chỉ thị số 05/CT-TTg (2004) của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 19/2004/CT-UB và Quyết định số 1597/2007/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu văn bản pháp luật: Thu thập, phân tích và hệ thống hóa các chỉ thị, nghị định, thông tư điều chỉnh hoạt động quản lý đất đai và trình tự cấp giấy.
  • Phương pháp thống kê, điều tra số liệu: Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết, hồ sơ địa chính, sổ bộ mục kê tại UBND xã Phú Đô và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý số liệu diện tích, cơ cấu đất đai, số lượng hồ sơ cấp giấy qua các năm bằng các bảng biểu so sánh trên phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word nhằm tìm ra các biến động và điểm nghẽn thực tế.

Nguồn dữ liệu

  • Báo cáo thống kê đất đai, kế hoạch sử dụng đất hàng năm của UBND xã Phú Đô (mốc số liệu ngày 01/01/2014).
  • Số liệu quan trắc khí tượng thủy văn của Trạm Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên.
  • Bản đồ địa chính chính quy tỷ lệ 1/1000, 1/2000 hoàn thành đo vẽ giai đoạn 2008 - 2009 tại xã Phú Đô.
  • Tài liệu báo cáo từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Phú Lương.

Nội dung chính theo từng phần nghiên cứu

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai 2003 (chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất). Nội dung tổng quan làm rõ vai trò của GCNQSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân (bảo vệ quyền lợi hợp pháp, điều kiện tham gia thị trường bất động sản) và đối với Nhà nước (công cụ phân phối lại quỹ đất, quy hoạch, kiểm soát biến động).

Về thực tiễn cấp tỉnh và huyện:

  • Tỉnh Thái Nguyên: Tổng diện tích cần cấp GCNQSDĐ toàn tỉnh là hơn 263.000 ha (chiếm 74% diện tích tự nhiên). Tính đến năm 2013, tỉnh đã cấp được trên 195.000 ha với hơn 435.000 GCNQSDĐ (đạt gần 73% diện tích đất nông nghiệp và hơn 90% diện tích đất phi nông nghiệp).
  • Huyện Phú Lương: Toàn bộ 16/16 xã, thị trấn đã hoàn thành đo đạc bản đồ địa chính chính quy. Năm 2013, diện tích cấp GCNQSDĐ toàn huyện đạt hơn 1.000 ha, bằng 262% so với năm 2012.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Phú Đô

  • Vị trí và địa hình: Nằm ở phía Đông huyện Phú Lương (tọa độ từ 105°45'00'' đến 105°49'20'' Đ, 21°42'10'' đến 21°46'30'' B), cách trung tâm huyện 20 km. Địa hình đồi núi dốc theo hướng Bắc - Nam, điểm cao nhất là đèo Khê thuộc xóm Phú Thọ (331,0 m), thấp nhất tại xóm Phú Nam 6 (42,2 m).
  • Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm 22°C, độ ẩm trung bình 82%, tổng số giờ nắng 1.628 giờ/năm. Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 (chiếm trên 90% lượng mưa cả năm). Hệ thống thoát nước dựa vào lưu vực Sông Cầu (chảy qua ranh giới phía Đông Nam) cùng mạng lưới sông suối tự nhiên (suối Phú Đô, Na Sàng, Làng Vu, Khe Vàng...).
  • Tài nguyên đất và rừng: Có 3 nhóm đất chính gồm đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (F), đất phù sa không được bồi (P) và đất dốc tụ (D). Tổng diện tích rừng là 942,62 ha (độ che phủ đạt 48%), trong đó rừng sản xuất chiếm 900,86 ha, rừng phòng hộ chiếm 42,87 ha (tập trung tại xóm Na Sàng và Phú Đô 1).
  • Dân số và lao động: Năm 2013, xã có 5.869 nhân khẩu phân bố tại 25 xóm với 1.468 hộ (bình quân 4 người/hộ). Dân tộc Sán Chí chiếm 60%, người Kinh chiếm 30%, còn lại 10% là Tày, Nùng, H'mông. Tổng số lao động trong độ tuổi là 3.960 người (chiếm 67,47% dân số), trong đó lao động nông - lâm - thủy sản chiếm 80,56% (3.190 người), tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 6,74% (267 người), thương mại - dịch vụ - hành chính sự nghiệp chiếm 12,70% (503 người).

2. Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất năm 2013

Theo số liệu kiểm kê đất đai đến ngày 01/01/2014, tổng diện tích tự nhiên của xã Phú Đô là 2.258,00 ha:

STT Loại đất Mã đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
1 Đất nông nghiệp NNP 1.724,21 76,33
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 740,77 32,81
- Đất trồng cây hàng năm (Lúa: 196,70 ha; HNK: 87,87 ha) CHN 284,57 12,60
- Đất trồng cây lâu năm (chủ yếu là chè: 424,47 ha) CLN 456,20 20,21
1.2 Đất lâm nghiệp (RPH: 42,87 ha; RSX: 900,86 ha) LNP 942,62 41,73
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 41,83 1,85
2 Đất phi nông nghiệp PNN 450,13 19,96
2.1 Đất ở tại nông thôn ONT 260,53 11,54
2.2 Đất chuyên dùng (Trụ sở: 0,01 ha; Quốc phòng: 41,82 ha; SXKD: 9,40 ha; Công cộng: 89,95 ha) CDG 139,18 6,16
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 2,12 0,09
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 5,40 0,24
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 42,90 1,90
3 Đất chưa sử dụng CSD 83,66 3,70
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 0,98 0,04
3.2 Đất đồi chưa sử dụng DCS 0,01 0,00
3.3 Đất núi đá không có rừng cây NCS 82,67 3,66
Tổng Tổng diện tích tự nhiên 2.258,00 100,00

Về bộ máy quản lý: Xã bố trí 2 cán bộ địa chính có trình độ cao đẳng (1 phụ trách mảng địa chính - đất đai, 1 phụ trách mảng xây dựng).

3. Thực trạng công tác cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2011 - 2013

Toàn bộ các loại giấy chứng nhận cấp trước năm 2010 đều căn cứ vào bản đồ giải thửa 299 cũ. Sau khi bản đồ chính quy được hoàn thiện và thực hiện điều chỉnh diện tích đất ở theo Quyết định 1597/2007/QĐ-UBND của tỉnh, xã phải thực hiện cấp mới/cấp đổi toàn bộ diện tích. Tổng nhu cầu cần cấp GCNQSDĐ toàn xã là 1.461 hộ với diện tích 1.984 ha.

Kết quả triển khai thực tế giai đoạn 2011 - 2013:

  • Theo số hộ: Đã cấp được cho 304 hộ gia đình, cá nhân (đạt tỷ lệ 20,81%), với tổng số 1.344 GCNQSDĐ (trong đó có 265 hộ gia đình và 38 cá nhân).
  • Mức độ phân bổ giữa các xóm: Tiến độ không đồng đều. Xóm Phú Nam 1 đạt tỷ lệ cao nhất với 63,64% số hộ được cấp (35 hộ, 169 GCNQSDĐ). Ngược lại, có 4 xóm chưa cấp được bất kỳ GCNQSDĐ nào gồm: Na Sàng (0/16 hộ), Phú Đô 1 (0/25 hộ), Ao Cống (0/62 hộ) và Khe Vàng 1 (0/52 hộ).
  • Theo loại đất:
    • Đất nông nghiệp: Cần cấp 1.724,21 ha, đã cấp được 126,78 ha (đạt 7,35%).
    • Đất ở: Cần cấp 260,53 ha, đã cấp được một phần diện tích tương ứng tỷ lệ 2,42%.
    • Tổng diện tích đã cấp: Đạt 132,xx ha, chiếm 6,68% tổng diện tích cần cấp (1.984 ha).
  • Tiến độ qua các năm:
    • Năm 2011: Cấp được diện tích rất thấp (chiếm 2,27% tổng diện tích cấp được của cả giai đoạn, tương đương 0,15% diện tích cần cấp) do mới tiếp nhận bản đồ chính quy, phải tập trung kiểm kê và đối soát thực địa.
    • Năm 2012: Cấp được 43,xx ha (chiếm 33,18% tổng diện tích cấp được, tăng 40,98 ha so với năm trước).
    • Năm 2013: Đẩy mạnh thực hiện, cấp được 85,xx ha (chiếm 64,54% tổng diện tích cấp được của cả giai đoạn, tăng 82,55 ha so với năm 2011 và tăng 41,57 ha so với năm 2012).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Phản ánh thực trạng phân bổ đất đai: Nghiên cứu đã tổng hợp chi tiết hiện trạng sử dụng 2.258,00 ha đất xã Phú Đô, làm rõ đặc thù của một xã thuần nông vùng cao với 76,33% đất nông nghiệp (chủ yếu là chè và rừng) và 3,70% đất chưa sử dụng (chủ yếu là núi đá vôi không có rừng).
  2. Định lượng tiến độ cấp GCNQSDĐ: Xác định rõ kết quả thực hiện sau 3 năm chuyển đổi sang bản đồ chính quy: cấp được 1.344 GCNQSDĐ cho 304/1.461 hộ (20,81%), hoàn thành 6,68% tổng diện tích cần cấp (132,xx ha / 1.984 ha).
  3. Chỉ ra các điểm nghẽn thực tiễn:
    • Địa hình chia cắt mạnh, dân cư phân tán khiến công tác đo đạc, thẩm tra ranh giới gặp khó khăn.
    • Nguồn gốc đất phức tạp, việc chuyển nhượng, tặng cho qua nhiều thời kỳ không lập văn bản, nhiều chủ sử dụng làm mất giấy tờ cũ.
    • Đất có tranh chấp về mốc giới giữa các hộ dân chưa được giải quyết dứt điểm.
    • Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao (Sán Chí chiếm 60%), nhận thức về thủ tục hành chính và kê khai đăng ký đất đai còn hạn chế.
    • Người dân chậm hoàn thành nghĩa vụ tài chính do điều kiện kinh tế khó khăn.
    • Cán bộ chuyên trách mỏng (2 cán bộ phụ trách 25 xóm) trong khi khối lượng công việc kiểm kê, xử lý hồ sơ lớn.

Đề xuất giải pháp của tác giả

  • Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Tận dụng hệ thống loa truyền thanh xã, tủ sách pháp luật và các buổi họp xóm để hướng dẫn cụ thể quy trình kê khai, đăng ký đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Hoàn thiện hồ sơ địa chính và ứng dụng CNTT: Đẩy mạnh số hóa dữ liệu địa chính, cập nhật biến động đất đai thường xuyên vào hệ thống cơ sở dữ liệu để rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.
  • Giải quyết dứt điểm tranh chấp đất đai: Tăng cường vai trò của tổ hòa giải cơ sở và cán bộ địa chính trong việc xác định mốc giới, xử lý các vướng mắc về nguồn gốc đất ngay tại xóm.
  • Cải cách thủ tục hành chính và đào tạo cán bộ: Thực hiện nghiêm túc quy trình một cửa theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP, bố trí kinh phí đo đạc bổ sung và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho cán bộ địa chính xã.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi số liệu trong giai đoạn 2011 - 2013 tại một xã miền núi cụ thể, dựa trên khung pháp lý của Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn dưới luật có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu (năm 2014).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát sự thay đổi trong công tác cấp GCNQSDĐ sau khi Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành đi vào thực tiễn (từ ngày 01/07/2014).
    • Nghiên cứu giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính số đa mục tiêu và mô hình Văn phòng Đăng ký đất đai một cấp tại cấp huyện.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên môi trường: Cung cấp phương pháp thu thập, xử lý số liệu địa chính cấp xã và quy trình phân tích hiện trạng sử dụng đất từ hệ thống số liệu kiểm kê thực tế.
  • Cán bộ quản lý địa phương: Giúp chính quyền xã Phú Đô và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương nhìn nhận rõ các nguyên nhân tồn đọng hồ sơ địa chính khi chuyển đổi từ bản đồ 299 sang bản đồ chính quy.
  • Các nghiên cứu so sánh: Làm cơ sở dữ liệu lịch sử để đối chiếu tiến độ cấp GCNQSDĐ nông - lâm nghiệp tại các xã miền núi vùng Đông Bắc Bộ qua các thời kỳ chuyển đổi luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng diện tích tự nhiên và cơ cấu đất đai của xã Phú Đô năm 2013 như thế nào?

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2013 (tính đến 01/01/2014), tổng diện tích tự nhiên của xã Phú Đô là 2.258,00 ha. Cơ cấu gồm 3 nhóm chính:

  • Đất nông nghiệp: 1.724,21 ha (chiếm 76,33%).
  • Đất phi nông nghiệp: 450,13 ha (chiếm 19,96%).
  • Đất chưa sử dụng: 83,66 ha (chiếm 3,70%, chủ yếu là 82,67 ha đất núi đá không có rừng cây).

2. Kết quả cấp GCNQSDĐ tại xã Phú Đô giai đoạn 2011 - 2013 đạt bao nhiêu về số hộ và diện tích?

Trong giai đoạn 2011 - 2013:

  • Cấp được cho 304 hộ gia đình, cá nhân trên tổng số 1.461 hộ cần cấp (đạt tỷ lệ 20,81%), với tổng số 1.344 GCNQSDĐ (265 hộ gia đình, 38 cá nhân).
  • Cấp được 132,xx ha trên tổng số 1.984 ha cần cấp (đạt tỷ lệ 6,68%). Trong đó, đất nông nghiệp cấp được 126,78 ha / 1.724,21 ha (đạt 7,35%), đất ở đạt tỷ lệ 2,42%.

3. Tiến độ cấp GCNQSDĐ giữa các xóm tại xã Phú Đô có sự chênh lệch ra sao?

Tiến độ cấp giấy có sự chênh lệch lớn giữa 25 xóm:

  • Xóm có tỷ lệ cao nhất là Phú Nam 1 đạt 63,64% số hộ được cấp (35 hộ với 169 GCNQSDĐ).
  • Có 4 xóm chưa cấp được bất kỳ GCNQSDĐ nào gồm: Na Sàng (0/16 hộ), Phú Đô 1 (0/25 hộ), Ao Cống (0/62 hộ) và Khe Vàng 1 (0/52 hộ).

4. Lý do chính khiến kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2011 tại xã Phú Đô đạt rất thấp?

Năm 2011, xã chỉ cấp được diện tích tương ứng 2,27% tổng diện tích cấp được của cả giai đoạn 2011 - 2013 (chiếm 0,15% diện tích cần cấp). Nguyên nhân là do bản đồ địa chính chính quy mới hoàn thành đo vẽ cuối 2009 và đưa vào sử dụng đầu 2010, cán bộ địa chính xã phải tập trung nhiều thời gian để kiểm kê lại diện tích đo đạc thực tế, xử lý số liệu điều chỉnh đất ở theo Quyết định 1597/2007/QĐ-UBND và giải quyết các tồn đọng hồ sơ cũ.

5. Khó khăn lớn nhất về mặt nhân sự và đặc thù dân cư ảnh hưởng đến quản lý đất đai tại xã là gì?

Về nhân sự, xã chỉ có 2 cán bộ địa chính trình độ cao đẳng phụ trách địa bàn rộng gồm 25 xóm đồi núi phức tạp. Về dân cư, 60% dân số là đồng bào dân tộc Sán Chí, nhận thức về pháp luật đất đai còn hạn chế, tình trạng mua bán/chuyển nhượng viết tay hoặc không lưu giữ giấy tờ gốc diễn ra phổ biến, gây ách tắc khâu hoàn thiện hồ sơ pháp lý.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đoàn Duy Hiếu đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác quản lý và cấp GCNQSDĐ tại xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2011 - 2013. Mặc dù địa phương đã có nhiều nỗ lực sau khi đưa bản đồ địa chính chính quy vào sử dụng và đạt mức tăng trưởng diện tích cấp giấy qua từng năm (năm 2013 chiếm 64,54% tổng kết quả cả giai đoạn), tỷ lệ hoàn thành chung vẫn còn thấp (20,81% số hộ và 6,68% diện tích). Các nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc thù địa hình miền núi, nguồn gốc đất phức tạp, sự thiếu đồng bộ của hồ sơ qua các thời kỳ và nguồn lực cán bộ cơ sở còn mỏng. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong công trình tập trung vào việc tuyên truyền, cải cách thủ tục và số hóa quản lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương.