PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài “Đất là mẹ, sức sản xuất là của cha,sản sinh mọi thứ của cải vật chất “ Đất đai được ví như mẹ cha, phải nói đất có vai trò rất quan trọng đối với con người. Bởi lẽ, cha mẹ là người chỉ có một, không ai có thể thay thế được.Và đất đai cũng như vậy, không thể thay bằng một tư liệu sản xuất khác tốt hơn nó được. Đất đai có sức tồn tại lâu dài, không hỏng hóc qua thời gian, chúng tồn tại vĩnh cửu không bị mất đi mà nó còn tốt tươi và màu mỡ hơn khi con người biết sử dụng, cải tạo nó.
Như vậy, ta có thể thấy: Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho loài người, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, là tài sản lớn và quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Chính vì thế, để đất có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau một cách hiệu quả, sự phân bố và sử dụng đất hợp lý là chìa khoá cần thiết có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của con người. Để quản lý và sử dụng đất đai có hiệu quả không phải là vấn đề đơn giản mà ngược lại đây là vấn đề hết sức phức tạp. Bên cạnh đó có những địa phương đã thưc hiện tốt việc quản lý và sử dụng đất đai theo đúng pháp luật, thì vẫn còn không ít địa phương quản lý đất đai còn buông lỏng.
GCNQSD đất là giấy do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng [2]. 2 GCNQSD đất cấp theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành. GCN được cấp theo từng thửa đất gồm 2 bản, trong đó một bản cấp cho người sử dụng đất, một bản lưu tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất. Quá trình cấp GCN là quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ nhất để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đất đai (giữa Nhà nước với người sử dụng đất và giữa người sử dụng đất với nhau) theo đúng pháp luật [2].
Điều 97, Luật đất đai năm 2013 khẳng định “Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” là một trong 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Đây thực chất là một thủ tục hành chính nhằm thiết lập một hệ thống thông tin đầy đủ, chặt chẽ, kịp thời giữa Nhà nước và đối tượng sử dụng đất; là cơ sở để Nhà nước quản lý hiệu quả toàn bộ đất đai theo pháp luật, để từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo chế độ quản lý Nhà nước về đất đai, đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững [1]. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài:“Đánh giá công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2014 - 2016”. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát - Tìm hiểu thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
-Đánh giá hiệu quả và hạn chế trong công tác cấp giấy chứng nhận, tìm ra những nguyên nhân và giải pháp đẩy nhanh tốc độc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với mong muốn đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận tại phường được tốt hơn trong hiện tại cũng như trong tương lai. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu và đánh giá thực trạng cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định và đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai thống kê, kiểm kê, kết quả cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất những phương án và giải pháp khắc phục để nâng cao chất lượng công tác cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngoài thực tế. + Rèn luyện kỹ năng làm việc chuyên môn để hoàn thiện bản thân đáp ứng nhu cầu của xã hội. - Trong thực tiễn: Đề tài nghiên cứu đánh giá, phân tích những thuận lợi và khó khăn, kết quả của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của phường Gia Sàng, từ đó kiến nghị và đề xuất các cấp có thẩm quyền đưa ra những giải pháp phù hợp với công tác cấp GCN QSDĐ và công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của công tác cấp GCN QSDĐ 2. Cơ sở lý luận của công tác cấp GCN QSDĐ Công việc đầu tiên để cấp giấy chứng nhận đó là đăng kí đất đai: Đăng ký đất đai thực chất là đăng ký quyền sử dụng đất, đây là một thủ tục hành chính do cơ quan nhà nước thực hiện đối với các đối tượng là tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất. [2] Tại khoản 1 điều 95 Luật đất đai 2013 [1] quy định: “Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu”. Theo khoản 15 điều 3 Luật đất đai 2013 [7] quy định rõ và cụ thể như sau: “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính”.
* Khái niệm về cấp GCN QSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng. Theo khoản 16 điều 3 Luật Đất đai 2013 [7] quy định rõ như sau: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. 5 *Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Công tác đăng ký đất đai và cấp GCN QSDĐ là 1 trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai đã được quy định tại điều 22 Luật Đất đai 2013. Điều 22 Luật Đất đai 2013 [7] quy định 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: 1.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thống kê, kiểm kê đất đai.
Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.Sơ lược về hồ sơ địa chính Là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Hồ sơ địa chính được lập thành một bản gốc và hai bản sao từ bản gốc.
Hồ sơ địa chính do văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường lập, chỉnh lý, quản lý đồng thời sao gửi hồ sơ cho văn phòng đăng ký đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND xã để phục vụ nhiệm vụ quản lý đất đai của địa phương. Theo quy định hiện hành hồ sơ địa chính có hai dạng là hồ sơ địa chính dạng giấy và hồ sơ địa chính dạng số. Thành phần hồ sơ địa chính bao gồm: - Đối với các địa phương xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu địa chính, hồ sơ địa chính được lập dưới dạng số và lưu trong cơ sở dữ liệu đất đai gồm: + Tài liệu điều tra đo đạc địa chính gồm bản đồ địa chính và sổ mục kê. + Sổ địa chính.
+ Bản lưu Giấy chứng nhận. - Đối với địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, hồ sơ địa chính gồm: + Bản đồ địa chính và sổ mục kê lập dưới dạng giấy và dạng số (nếu có). + Sổ địa chính được lập dưới dạng giấy hoặc dạng số. + Sổ theo dõi biến động đất đai lập dưới dạng giấy.