Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đất đai 1. Đất đai và vai trò của đất đai 1. Định nghĩa đất đai Có rất nhiều định nghĩa về đất đai: đất đai định nghĩa như là “một thực thể tự nhiên dưới đặc tính không gian và địa hình” và thường được kết hợp với một giá trị kinh tế được diễn giải dưới dạng giá đất/ha khi chuyển quyền sử dụng rộng hơn trên quan điểm tổng hợp và tổng thể thì cũng bao gồm luôn cả tài nguyên sinh vật và kinh tế xã hội của một thực thể tự nhiên [23].
Đất đai về mặt địa lý mà nói thì là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất: có những đặc tính mang tính ổn định hay có chu kỳ dự đoán được, trong khu vực sinh - khí quyển theo chiều thẳng đứng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước và quần thể thực vật, động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai (Theo định nghĩa về đất đai của Brinkman và Smyth, 1973). Một định nghĩa hoàn chỉnh chung như sau: Đất đai là một diện tích khoang vẽ của bề mặt trái đất của trái đất, chưa đựng tất cả các đặc trưng của sinh - khí quyển ngay bên trên và bên dưới của lớp mặt này, bao gồm khí hậu gần mặt đất, đất và dạng địa hình, nước mặt (bao gồm những hồ cạn, sông, đầm trũng và đầm lầy), lớp trầm tích gần mặt và kết hợp với dự trữ nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, mẫu hình định cư của con người và những kết quả về tự nhiên những hoạt động của con người trong thời gian qua và hiện tại (làm ruộng bậc thang, cấu trúc hệ thống trữ nước và thoát nước, đường xá, nhà cửa). Vai trò của đất đai - Về kinh tế Có thể khẳng định rằng đất đai là một tư liệu không gì khẳng định được và sản xuất không giới hạn. Đất đai khác với mọi tư liệu sản xuất khác ở chỗ, đất đai được tồn tại vĩnh viễn theo thời gian mà không bị mất đi.
Trong khi đó các tư liệu 5 sản xuất khác bị hao mòn theo thời gian, sẽ bị vứt đi và bị thay thế bừng một tư liệu sản xuất khác tiến bộ hơn. Còn đất đai thì được luân chuyển từ đời này sang đời khác. Đất đai là địa bàn sinh sống của dân cư, là kho tàng bến cảng, là chỗ đứng của nhân dân trong nhà máy. Nói chung đất đai là cơ sở vật chất để thực hiện mọi quá trình sản xuất, tất cả các thành phần kinh tế đều cần đến đất đai [21].
- Về mặt chính trị Đất đai là nơi trú ngụ của cả một cộng đồng dân tộc. Vì thế, để giữ gìn đất đai, bảo vệ lãnh thổ dân tộc ta phải trải qua lịch sử hàng nghìn năm chiến đấu kiên cường để bảo vệ lãnh thổ, độc lập dân tộc. Trong đời sống chính trị của một đất nước, đất giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Là nguyên nhân cơ bản diễn ra các cuộc chiến tranh trong lịch sử [21].
Huỳnh Văn Chương (2011), đất đai là một tài nguyên thiên nhiên vô cũng quý giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất là nền tảng của sự sống nói chung , loài người nói riêng. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, cũng với sự ra đời của Nhà nước, đất đai được đưa vào sử dụng với những pháp lý khác nhau, diều này phụ thuộc vào chế độ chính trị kinh tế của mỗi quốc gia [5]. Đối với môi trường đất là chỗ dựa cho tất cả hệ sinh thái, đất là một trong những yếu tố quan trọng để điều hòa nhiệt độ và điều hòa khí hậu bằng cách giữ nhiệt độ làm giảm sức nóng của mặt trời qua nhiều tầng đất của mình.
Đất còn là túi lọc chuyển nước bề mặt thành nước ngầm chứa vô khối nước tinh khiết. Với đặc thù độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được, đó là độ phì nhiêu, đất còn cung cấp toàn bộ dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi giúp cho nó sinh sôi nảy nở và phát triển. Ở một vùng nhất định, kết cấu đất có thể được sử dụng làm nguyên liệu của một số ngành sản xuất phục vụ đời sống xã hội như: gạch, ngói, đồ gấm, xi măng… [5]. Trong lịch sử hình thành và phát triển của Nhà nước, đất gắn liền với sự ra đời và tồn tại của một quốc gia là vấn đề lãnh thổ, vì lãnh thổ nó có ý nghĩa đới với việc tồn tại và duy trì một ranh giới quyền lực Nhà nước trong một cộng đồng dân cư nhất định.
Giá đất và vai trò của nó 1. Định nghĩa về giá đất Điều 4 Luật đất đai 2003 giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định. Giá đất là phương tiện để thể hiện nội dung chủ yếu của các hệ chuyển quyền sử dụng đất trong chuyển đồi, chuyện nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất 1. Vai trò của giá đất Khoản 1 điều 54 Luật đất đai 2003 xác định giá đất là cơ sở để thu tiền nộp ngân nhà nước bao gồm: - Tiền sử dụng đất trong các trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất [6].
- Tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê. - Thuế sử dụng đất. - Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất. - Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai.
- Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai. - Phí và lệ phí trong quản lý và sử dụng đất đai 1. Các yếu tố ảnh hưởng tới giá đất - Đặc tính tự nhiên: vị trí, kích thước, hình thể, diện tích thửa đất hoặc lô đất, địa hình, đặc điểm trên mặt đất và dưới lòng đất, tình trạng môi trường, các tiện lợi và nguy cơ rủi ro của tự nhiên [7], [22], [25]. - Đặc tính kinh tế: Khả năng mang lại thu nhập từ đất - Đặc tính xã hội: Đặc tính nhân khẩu gia đình, tình hình chính trị an ninh xã hội, tình hình đầu cơ nhà đất, tiến trình đô thị hóa.
- Các yếu tố pháp lý 7 1. Tổng quan về thu hồi đất 1. Khái niệm thu hồi đất Cho tới nay về cơ bản mọi khoảnh đất có thể sử dụng vào phát triển kinh tế (trừ phần mặt biển sở hữu chung) đã có chủ. Theo cách hiểu thông dụng truyền thống, người chủ sử dụng đất có mọi quyền đối với đất thuốc sở hữu của mình, đặc biệt là quyền sử dụng, thu lợi và trao đổi.
Trong xã hội hiện đại, do đất vừa là tài sản, vừa là môi trường sống chung nên chủ sở hữu đất đã bị Nhà nước lấy bớt một số quyền với đất, ví dụ như quyền tùy ý sử dụng đất bị bó hẹp trong quy hoạch không gian chung, trong các quy định về bảo vệ môi trường. Tuy bị thu bớt một số quyền, trong đó các quyền cơ bản là: Sử dụng phục vụ nhu cầu của mình, thu lợi trên đất, trao đổi với người khác với tư cách hàng hóa độc lập [11]. Ở các nước duy trì sở hữu tư nhân đối với đất đai, người chủ đất nắm toàn bộ các quyền về đất. Khi đó, nếu Nhà nước hoặc cá nhân khác muốn sử dụng đất đó phải mua hoặc thuê lại.
Ở các nước này không có khái niệm Nhà nước thu hồi lại đất. Ở nước ta duy trì sở hữu toàn dân đối với đất đai, xuất hiện khái niệm giao và thu hồi đất. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu rõ: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa,… đều thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”.
Như vậy, thu hồi đất là quyền lực của Nhà nước ta được quy định trong luật căn cứ vào vị thế đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Thu hồi đất là việc các cơ quan nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất của những cá nhân và tổ chức nào đó để giao cho các nhân hoặc tổ chức khác sử dụng hiệu quả hơn hoặc để Nhà nước sử dụng vào mục đích chung [14]. Thu hồi đất hiểu theo nghĩa này, khác với thu hồi đất của chủ cho thuê đất khi hết kỳ hạn thuê. Thu hồi đất ở đây là hành vi lấy lại quyền sử dụng đất đã được giao của Nhà nước để sử dụng vào mục đích khác.
Người bị thu hồi đất không có vị thế giao kết hợp đông của người thuê, không có quyền từ chối chuyển giao quyền sử dụng đất cho Nhà nước, thậm chí không có quyền thỏa thuận giá cả đền bù. 8 Trong khi đó đối với người bị thu hòi đất, thường là nông dân, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng đối với họ, nhiều trường hợp là sống còn. Do đó đi đôi với thu hồi đất, Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ bồi thường và tái định cư đồi với người bị thu hồi đất. Sự cần thiết của thu hồi đất Các quan hệ về sở hữu và sử dụng đất đai luôn gắn chặt với lịch sử và chế độ chính trị của một nước.
Ở nước ta, sau khi Quốc hội ban hành luật đất đai năm 1993, hầu hết đất đai có thể sử dụng đã được giao cho các gia đình và các tổ chức khác nhau kèm theo việc quy định sử dụng cho từng loại đất. Sau khi đất đã được giao hết, về cơ bản quyền sử dụng đất và mục đích sử dụng đất đã được định vị. Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhiều khoanh đất cần phải thay đổi mục đích sử dụng và có thể phải chuyển giao chủ sử dụng mới. Chính vì thế có hoạt động thu hồi đất [11].
Điều 38, Luật Đất đai 2003 quy định Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: - Chuyển đất sang sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia. Lợi ích công cộng, phát triển kinh tế. - Sử dụng đất không đúng mục đích, không hiệu quả. Đất lấn chiếm.