mở đầu cho sự phát triển ngành dệt may Việt Nam với lịch sử hơn 100 năm hình thành và phát triển. Theo thống kê của Sở Công thƣơng, tính đến thời điểm năm 2017, tại Nam Định số lƣợng cơ sở sản xuất hoạt động dệt may là 5.980 cơ sở, trong đó có khoảng 5.750 cơ sở may mặc hộ gia đình (bao gồm 19 làng nghề dệt may, ƣơm tơ), 181 doanh nghiệp may mặc và 49 doanh nghiệp hoạt động sản xuất chính là dệt nhuộm với tổng lƣợng nƣớc thải phát sinh khoảng hơn 33. Nƣớc thải phát sinh trong ngành công nghiệp dệt nhuộm luôn là một trong những loại nƣớc thải khó xử lý vì nó chứa nhiều thành phần nguy hại nhƣ: pH, TSS, độ màu cao, tỷ lệ COD/BOD và nhiệt độ cao,. Ngoài ra, tính chất nƣớc thải dệt nhuộm không ổn định mà đổi liên tục theo giờ, theo từng ca sản xuất và lƣu lƣợng nƣớc thải luôn có sự biến động và gây hại cho các loài thủy sinh, ăn mòn các công trình thoát nƣớc cũng nhƣ hệ thống xử lý thải [10] Do đó, để đánh giá đƣợc hiện trạng công nghệ xử lý nƣớc thải nhuộm đang đƣợc áp dụng tại tỉnh Nam Định và đề xuất biện pháp nâng cao công nghệ xử lý nƣớc thải tại Công ty cổ phần TCE Vina Denim, đề tài luận văn “ Đánh giá công nghệ xử lý nước thải nhuộm tại Công ty cổ phần TCE Vina Denim và đề xuất biện pháp cải thiện” đƣợc lựa chọn nhằm đề xuất các biện pháp áp dụng bổ sung nhằm nâng cao hiệu suất xử lý nƣớc thải nhuộm tại Công ty đồng thời giảm thiểu chi phí cho vận hành trạm xử lý nƣớc thải.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: (i) Đánh giá thực trạng công nghệ xử lý nƣớc thải nhuộm của Công ty cổ phần TCE Vina Denim; (ii) Đề xuất một số hƣớng cải tạo công nghệ, quản lý, giám sát môi trƣờng mới tại Công ty cổ phần TCE Vina Denim 1 z CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình sản xuất và phát sinh nƣớc thải của ngành dệt may Ngành dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc đến tay ngƣời tiêu dùng. Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành công nghiệp đem lại thặng dƣ xuất khẩu cho nền kinh tế, góp phần giải quyết việc làm và tăng phúc lợi xã hội.
Tình hình sản xuất và phát sinh nước thải của ngành dệt may trên thế giới Chất thải dệt nhuộm đặc biệt là nƣớc thải đang là vấn đề ô nhiễm môi trƣờng đƣợc đặc biệt quan tâm đối với những quốc gia có ngành dệt may phát triển, trung bình mỗi năm cần sử dụng 5,8 nghìn tỷ lít nƣớc (tƣơng đƣơng vơi lƣợng nƣớc đáp ứng cho 2.000 hồ bơi chuẩn Olympic) và 391 tỷ kWh cho công đoạn nhuộm màu vải (tƣơng đƣơng với 10% lƣợng điện tiêu thụ khắp nƣớc Mỹ năm 2016). Đồng thời, công đoạn nhuộm phát sinh khoảng 568 triệu tấn khí nhà kính (GHG) mỗi năm (tƣơng đƣơng với hơn 94 triệu xe chở khách phát ra mỗi năm) [15]. Do đó, lĩnh vực dệt nhuộm trên thế giới đang có những chuyển biến mạnh mẽ; cụ thể, tại Trung Quốc, một loạt các doanh nghiệp dệt nhuộm không đạt tiêu chuẩn phải đóng cửa, các doanh nghiệp FDI lĩnh vực dệt nhuộm tìm đến các quốc gia châu Á khác nhƣ Việt Nam, Myanmar…Mặt khác, công nghệ dệt nhuộm bằng khí đƣợc quan tâm do giảm lƣợng nƣớc tối đa trong quá trình nhuộm và giảm thiểu vấn đề về nƣớc thải gây ô nhiễm môi trƣờng [15]. Sau Thế kỷ 20, ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp sản xuất quy mô lớn.
Toàn ngành có những thay đổi đột phá, từ trang phục đƣợc may theo số đo từng ngƣời với chi phí đắt đỏ đến việc sản xuất phục vụ nhu cầu đại chúng với chi phí thấp, từ kiểu dáng, mẫu mã, chất liệu, màu sắc đến thời gian sử dụng và phát triển các sản phẩm mới cũng liên tục đƣợc thay đổi. Công đoạn sản xuất liên tục dịch chuyển về nơi có chi phí sản xuất thấp, từ Bắc Mỹ và Tây Âu sang Nhật Bản rồi chuyển sang Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc, tới Trung Quốc, và chuyển dần tới các nƣớc Nam Á và châu Mỹ Latin [9], dịch chuyển giá trị sản xuất trong chuỗi giá trị của ngành dệt may đƣợc thể hiện ở Hình 1. 1: Dịch chuyển giá trị sản xuất trong chuỗi giá trị may mặc Nguồn: Ngành dệt may, báo cáo phân tích [9] Sản phẩm của ngành dệt may đang là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, quy mô toàn ngành liên tục tăng trƣởng, mặc dù quy mô và tốc độ tăng trƣởng có chậm lại so với giai đoạn những năm 1990 nhƣng đƣợc kỳ vọng tiếp tục hồi phục mức tăng trƣởng cao hơn trong giai đoạn 2012 – 2021. Quy mô doanh thu ngành dệt may toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trƣởng ở mức 4,6%/năm từ 2016 đến 2021, đạt doanh thu ƣớc tính 1.659,5 tỷ vào năm 2021 (Hình 1.
Mức tăng trƣởng của ngành dệt may chủ yếu do tiêu thụ sản phẩm may mặc toàn cầu tăng cũng nhƣ tăng giá bán trung bình sản phẩm đặc biệt tại các nƣớc đang phát triển [15]. Trong đó: CAGR là tỉ lệ tăng trưởng lũy kế hàng năm F là Future (giá trị ước tính trong những năm tiếp theo) Hình 1. 2: Tăng trưởng doanh thu ngành dệt may toàn cầu từ năm 2012- 2021 Nguồn: Lê Hồng Thuận, Báo cáo ngành dệt may tháng 12 – 2017[15] 3 z Đầu thế kỷ 20, ngành dệt may thế giới có những bƣớc chuyển dịch sản xuất từ các nƣớc phát triển sang các nƣớc đang phát triển, đặc biệt nhƣ là các nƣớc Châu Á nhƣ: Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam hay Thổ Nhĩ Kỳ; các nƣớc này có kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc lớn (chiếm 53 % kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc toàn cầu). Trung Quốc vốn là nƣớc xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới, nhƣng tốc độ tăng trƣởng âm trong năm 2016 (tốc độ tăng trƣởng -10%), cho thấy việc sản xuất hàng may mặc đã có xu hƣớng bão hòa ở Trung Quốc và công đoạn sản xuất hàng may mặc chuyển dần sang các nƣớc châu Á Thái Bình Dƣơng khác nhƣ Bangladesh, Ấn Độ, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ.
Bangladesh và Campuchia có tốc độ tăng trƣởng cao trong năm 2016 (8% và 12%) trong khi sản xuất hàng may mặc ở Việt Nam, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ tăng trƣởng với tốc độ chậm lại [9]. Các quốc gia đang phát triển khác nhƣ Indonesia, Campuchia, Tunisia, Myanma. có kim ngạch xuất khẩu ở mức thấp, tuy nhiên cũng đang có tốc độ tăng trƣởng vƣợt bậc. Các quốc gia này đƣợc kỳ vọng sẽ tiếp tục đón đầu giai đoạn dịch chuyển công đoạn sản xuất hàng may mặc từ Trung Quốc trong thời gian tới, kinh ngạch xuất khẩu của ngành dệt may của một số quốc gia trên thế giới trong năm 2015- 2016 [15] Hình 1.
3: Kinh ngạch xuất khẩu của ngành dệt may tại một số quốc gia trên thế giới 2015-2016 Nguồn: Lê Hồng Thuận, Báo cáo ngành dệt may tháng 12 – 2017[15] Tốc độ tăng trƣởng nhanh của ngành dệt may trong những năm gần đây mang lại những tín hiệu tích cực cho sự phát triển kinh tế, bên cạnh đó vấn đề ô nhiễm môi 4 z trƣờng đang đƣợc đặc biệt quan tâm. Do đó, ngành dệt may trên thế giới đang có tác động tiêu cực đến môi trƣờng, cụ thể tại Trung Quốc một loạt các doanh nghiệp dệt nhuộm không đạt tiêu chuẩn phải đóng cửa. Các doanh nghiệp FDI lĩnh vực dệt nhuộm tìm đến các quốc gia châu Á khác nhƣ Việt Nam, Myanmar…mặt khác, công nghệ dệt nhuộm bằng khí đƣợc quan tâm do giảm lƣợng nƣớc tối đa trong quá trình nhuộm và giảm thiểu vấn đề về nƣớc thải gây ô nhiễm môi trƣờng [15]. Tình hình sản xuất và phát sinh nước thải của ngành dệt may tại Việt Nam Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây và trở thành một hoạt động sản xuất công nghiệp quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Năm 2013, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu dệt may vƣợt mức 20 tỷ USD và là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 trong cả nƣớc, giải quyết việc làm cho số lƣợng lớn ngƣời lao động (chiếm hơn 20% lao động khu vực công nghiệp và gần 5% tổng lực lƣợng lao động cả nƣớc) (Bảng 1. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu là từ các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp FDI lĩnh vực sản xuất hàng may mặc tuy chỉ chiếm khoảng 25% về lƣợng nhƣng đóng góp tới hơn 60% kim ngạch xuất khẩu. Lợi nhuận mà doanh nghiệp Việt Nam đƣợc hƣởng từ công nghiệp dệt may chƣa lớn (chỉ chiếm khoảng 3% quy mô xuất khẩu).
Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp trong nƣớc cần thay đổi phƣơng thức sản xuất và quản lý doanh nghiệp đồng thời cần sự hỗ trợ từ phía nhà nƣớc để có thể bứt phá và trở thành cƣờng quốc trong lĩnh vực này [9] Bảng 1. 1:Bảng so sánh một số chỉ tiêu của ngành dệt may và cả nước năm 2013 Tổng sản lƣợng Dệt sợi May Toàn ngành Cả nƣớc dệt may 2.903 triệu Tổng sản lƣợng sợi và 2,85 sản phẩm tỷ m2 vải Số lƣợng doanh nghiệp 2.485 Số lƣợng lao động 243.856 Kim ngạch xuất khẩu 26.580 Kim ngạch nhập khẩu 18.803 Tổn doanh thu thuần (tỷ) 204.042 5 z Tổng doanh thu trƣớc thuế (tỷ) 5.695 Vốn sản xuất kinh doanh (tỷ) 194.247 Nguồn: Niên giám thông kê năm 2015, 2016 [3] Năm 2017, Ngành dệt may Việt Nam có những bƣớc phát triển đáng kể, nhu cầu về hàng dệt may phục hồi đặc biệt là tại các thị trƣờng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam. Ngành dệt may có thặng dƣ thƣơng mại đạt mức cao kỷ lục, đứng đầu trong các ngành hàng xuất khẩu. Thặng dƣ thƣơng mại của dệt may Việt Nam trong năm 2017 đạt 12,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với mức thặng dƣ thƣơng mại của năm 2016 [6].
Từ năm 2010 đến cuối năm 2017 cho thấy thặng dƣ thƣơng mại của ngành dệt may Việt Nam đã không ngừng đƣợc cải thiện cả về mặt giá trị tuyệt đối lẫn tốc độ tăng trƣởng. Năm 2010, thặng dƣ thƣơng mại của ngành mới chỉ đạt 2,9 tỷ USD, thì sau 7 năm, thặng dƣ thƣơng mại đã tăng hơn 4 lần, trong khi kim ngạch xuất khẩu năm 2017 chỉ tăng 2,4 lần so với kim ngạch xuất khẩu năm 2010.