Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp lọc hóa dầu Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn khi nguồn dầu thô ngọt nhẹ truyền thống từ mỏ Bạch Hổ suy giảm sản lượng nghiêm trọng. Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được thiết kế với công suất chế biến 6,5 triệu tấn dầu thô mỗi năm, tương đương 148.000 thùng dầu mỗi ngày, dựa trên cấu hình nạp liệu 100% dầu Bạch Hổ hoặc hỗn hợp 85% dầu Bạch Hổ phối trộn với 15% dầu Dubai. Để duy trì vận hành ổn định trên tổng diện tích mặt bằng hơn 800 ha, bao gồm 110 ha khu công nghệ chính và 42 ha cụm bể chứa dầu thô, việc tìm kiếm và đánh giá các nguồn nguyên liệu bổ sung có chất lượng cao là yêu cầu sống còn.

Condensate từ các mỏ khí thiên nhiên thuộc thềm lục địa phía Nam, đặc biệt là bể trầm tích Nam Côn Sơn với tổng trữ lượng ước tính khoảng 21 triệu tấn, nổi lên như một giải pháp thay thế đầy tiềm năng. Tuy nhiên, condensate thô tại Việt Nam thường có thành phần phân đoạn Naphtha chiếm tỷ trọng lớn nhưng trị số Octane thấp, điển hình với chỉ số RON chỉ đạt khoảng 57. Nếu chỉ gia công phân tách đơn thuần để phối trộn trực tiếp, giá trị kinh tế thu được rất thấp. Do đó, mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng bộ cơ sở dữ liệu dầu thô chi tiết cho dầu Condensate mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh tại phòng thí nghiệm của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, đồng thời sử dụng mô hình quy hoạch tuyến tính để đánh giá toàn diện khả năng chế biến và hiệu quả kinh tế trong giai đoạn thị trường xăng RON 92 và RON 95 có mức chênh lệch giá cao so với dầu Diesel. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi mở ra giải pháp nâng cao biên lợi nhuận lọc dầu từ 0,5 đến 1,2 USD trên mỗi thùng sản phẩm, hạn chế tối đa việc xuất khẩu tài nguyên thô với giá rẻ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết hóa lý dầu mỏ và các công cụ mô hình hóa tối ưu hóa sản xuất công nghiệp:

  • Lý thuyết chưng cất phân đoạn điểm sôi thực: Xác định bản chất phân bố nhiệt độ sôi của các hydrocacbon từ nhiệt độ môi trường lên đến 400 °C ở áp suất khí quyển và chân không. Lý thuyết này cho phép dự báo chính xác hiệu suất thu hồi của từng dòng sản phẩm trung gian.
  • Lý thuyết quy hoạch tuyến tính trong tối ưu hóa nhà máy lọc dầu: Ứng dụng mô hình toán học giải thuật Simplex để mô phỏng cân bằng vật chất, cân bằng năng lượng và ràng buộc công suất của từng phân xưởng công nghệ, từ đó tìm ra phương án phối trộn nguyên liệu mang lại tổng doanh thu tối ưu.
  • Lý thuyết chuyển hóa cấu trúc hydrocacbon: Giải thích các phản ứng đồng phân hóa n-paraffin thành iso-paraffin tại phân xưởng ISOM và phản ứng dehydro hóa naphthene thành aromatic tại phân xưởng Reforming xúc tác liên tục CCR nhằm gia tăng đột biến chỉ số RON cho phân đoạn Naphtha.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Bộ dữ liệu dầu thô toàn diện, Áp suất hơi bão hòa Reid, Trị số Octane nghiên cứu, và Hệ số đặc trưng UOP K.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu thực nghiệm gồm 30 lít dầu Condensate Hải Thạch - Mộc Tinh được thu thập trực tiếp tại hệ thống khai thác ngoài khơi theo phương pháp lấy mẫu đại diện nghiêm ngặt. Cỡ mẫu 30 lít là dung tích tối ưu để vừa đảm bảo nạp đủ cho tháp chưng cất phân đoạn quy mô pilot 20 lít, vừa đủ lượng mẫu thành phần để thực hiện đồng thời 18 phép thử hóa lý chuyên sâu.

Quy trình phân tích thực nghiệm được thiết kế dựa trên hệ thống tiêu chuẩn ASTM quốc tế:

  • Chưng cất điểm sôi thực trên thiết bị Rofa TBP 20L theo tiêu chuẩn ASTM D2892, phân tách mẫu thành 10 phân đoạn hẹp từ phân đoạn khí hóa lỏng LPG đến phân đoạn có nhiệt độ cắt 370 °C. Phân đoạn cặn 370 °C+ tiếp tục được chưng cất chân không trên thiết bị Normalab P1280 theo tiêu chuẩn ASTM D1160 dưới áp suất 20 mmHg.
  • Phân tích thành phần hydrocacbon chi tiết bằng phương pháp sắc ký khí mao quản trên thiết bị Agilent 6890N theo tiêu chuẩn ASTM D6733 cho các phân đoạn Naphtha nhẹ C5-95 °C, Naphtha trung 95-145 °C và Naphtha nặng 145-165 °C.
  • Đo trị số Octane thực tế trên động cơ một xi lanh Waukesha CFR theo tiêu chuẩn ASTM D2699. Do các phân đoạn Naphtha nguyên bản có RON rất thấp, phương pháp phối trộn mẫu với Iso-octane chuẩn được áp dụng để đưa trị số vào thang đo định mức trước khi hiệu chỉnh về giá trị thực.
  • Xác định tỷ trọng bằng máy đo kỹ thuật số ống chữ U dao động PAC DA 500 theo tiêu chuẩn ASTM D4052, phân tích hàm lượng lưu huỳnh tổng bằng huỳnh quang tia X theo tiêu chuẩn ASTM D4294 và huỳnh quang cực tím theo tiêu chuẩn ASTM D5453.
  • Phân tích hàm lượng kim loại vi lượng Fe, Ni, V bằng quang phổ phát xạ plasma cảm ứng ICP Optima 5300 theo tiêu chuẩn ASTM D5708.

Toàn bộ dữ liệu phân tích sau đó được nhập vào phần mềm quản lý dữ liệu dầu thô HCAMS và tích hợp vào mô hình quy hoạch tuyến tính của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để mô phỏng đánh giá biên lợi nhuận kinh tế dựa trên mặt bằng giá quý 4 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã thiết lập bộ thông số toàn diện cho dầu Condensate Hải Thạch - Mộc Tinh với nhiều đặc tính vượt trội:

  • Tỷ trọng và độ bay hơi an toàn: Dầu có tỷ trọng ở 15 °C đạt 0,8252 kg/L, tương ứng với độ nhớt API đạt 39,97 °API. Áp suất hơi bão hòa Reid đo được ở mức 17,50 kPa, tương đương khoảng 2,54 psi, thấp hơn rất nhiều so với giới hạn an toàn 8,0 psi của hệ thống bể chứa tại Dung Quất.
  • Hàm lượng tạp chất cực thấp: Hàm lượng lưu huỳnh tổng chỉ chiếm 0,0588% khối lượng, chỉ số axit tổng đạt mức rất thấp 0,052 mg KOH/g, hàm lượng sắt Fe chỉ đạt 0,02 ppm trong khi Nickel và Vanadium đều dưới 1,0 ppm. Các chỉ số này loại trừ hoàn toàn nguy cơ gây ngộ độc xúc tác kim loại quý tại các phân xưởng công nghệ.
  • Hiệu suất thu hồi phân đoạn trắng vượt trội: Phân đoạn Naphtha sôi từ C5 đến 200 °C chiếm tới 37,2% khối lượng, phân đoạn dầu nhẹ và trung bình chiếm hơn 45% khối lượng, trong khi lượng cặn nặng 370 °C+ chỉ chiếm khoảng 0,24% khối lượng.
  • Chất lượng phân đoạn Naphtha chuyển hóa cao: Phân tích thành phần hydrocacbon cho thấy phân đoạn C5-95 °C chứa hàm lượng paraffin lên tới 99,03% khối lượng, trong khi phân đoạn 95-145 °C và 145-165 °C giàu hợp chất naphthene và aromatic, giúp chỉ số RON sau khi qua phân xưởng Reforming xúc tác CCR đạt trên 98-102 điểm.

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với các nguồn condensate khác trong khu vực như Condensate Nam Côn Sơn có RVP lên tới 10 psi hay Condensate Terengganu của Malaysia có RVP 12 psi và tỷ trọng nhẹ 0,6942, Condensate Hải Thạch - Mộc Tinh thể hiện tính chất hóa lý tương tự như một loại dầu thô siêu nhẹ ngọt. Áp suất hơi bão hòa thấp 17,50 kPa cho phép nhà máy tiếp nhận trực tiếp qua hệ thống phao rót dầu một điểm không bến SPM và bơm thẳng vào các bể chứa 42 ha mà không gây thất thoát hơi hydrocacbon hay vi phạm tiêu chuẩn an toàn phòng chống cháy nổ.

Dữ liệu chưng cất thực nghiệm có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ đường cong phân bố điểm sôi thực TBP kéo dài từ nhiệt độ sôi ban đầu 42,6 °C đến điểm sôi cuối trên 387 °C. Bên cạnh đó, các bảng cân bằng vật chất phân nhóm PONA thể hiện rõ tỷ lệ chuyển dịch từ paraffin mạch thẳng sang naphthene khi tăng khoảng nhiệt độ cắt.

Kết quả mô phỏng trên mô hình quy hoạch tuyến tính LP cho thấy khi phối trộn từ 5% đến 15% Condensate Hải Thạch - Mộc Tinh vào dòng dầu thô nạp cho phân xưởng chưng cất khí quyển CDU, nhà máy có thể tận dụng tối đa công suất thiết kế còn dư của cụm xử lý Naphtha gồm phân xưởng NHT công suất 23.000 thùng/ngày, phân xưởng ISOM công suất 6.500 thùng/ngày và đặc biệt là nâng công suất phân xưởng Reforming liên tục CCR vượt mức 100% công suất thiết kế 21.000 thùng/ngày. Sự chuyển hóa này làm gia tăng tỷ lệ sản xuất xăng thương phẩm cao cấp RON 95, nâng cao biên lợi nhuận ròng của nhà máy thêm 0,5 đến 1,2 USD trên mỗi thùng dầu chế biến so với phương án chạy 100% dầu Bạch Hổ thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hiện thực hóa các phát hiện khoa học từ luận văn vào thực tiễn sản xuất, bốn nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất:

  • Ban Giám đốc và Khối Sản xuất Nhà máy Lọc dầu Dung Quất phê duyệt quy trình phối trộn linh hoạt Condensate Hải Thạch - Mộc Tinh với tỷ lệ từ 5% đến 15% thể tích vào dòng dầu thô nạp cho phân xưởng CDU U-011 trong giai đoạn 2019–2022, nhằm mục tiêu đẩy công suất vận hành cụm phân xưởng CCR lên mức 102% đến 105% công suất thiết kế.
  • Phòng Quản lý Cảng biển và Công nghệ bảo dưỡng thiết lập hệ thống quan trắc áp suất tự động tại phao rót dầu không bến SPM và toàn bộ cụm bể chứa dầu thô diện tích 42 ha, duy trì kiểm soát áp suất hơi bão hòa định kỳ hằng tháng dưới ngưỡng giới hạn 8,0 psi để loại bỏ hoàn toàn nguy cơ bốc hơi thất thoát nguyên liệu.
  • Phòng Kế hoạch và Điều độ sản xuất số hóa toàn bộ bộ dữ liệu dầu thô gồm 10 phân đoạn đã xây dựng vào hệ thống quản lý dữ liệu HCAMS và phần mềm tối ưu hóa quy hoạch tuyến tính PIMS trong quý 1 hàng năm, nhằm liên tục cập nhật bài toán kinh tế theo biến động giá chênh lệch giữa xăng RON 95 và dầu thô thế giới.
  • Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hoàn thiện khung chính sách bao tiêu dài hạn nguồn condensate khai thác từ thềm lục địa phía Nam quy mô khoảng 21 triệu tấn trữ lượng cho đến năm 2030, ưu tiên phân bổ nguyên liệu phục vụ chế biến sâu nội địa thay vì xuất khẩu thô, giúp gia tăng giá trị chuỗi sản phẩm dầu khí quốc gia thêm hàng chục triệu USD mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Kỹ sư công nghệ lọc hóa dầu tại các nhà máy chế biến dầu khí: Ứng dụng quy trình thử nghiệm ASTM D2892, ASTM D1160 và các thông số vận hành phân đoạn thực tế để tối ưu hóa chế độ công nghệ cho tháp chưng cất khí quyển CDU, tháp tách Naphtha và cụm phản ứng CCR/ISOM.
  • Chuyên viên mô hình hóa và tối ưu hóa sản xuất: Sử dụng trọn vẹn bộ dữ liệu Crude Assay 10 phân đoạn làm thông số đầu vào chuẩn cho các phần mềm chuyên dụng như Aspen HYSYS, HCAMS và PIMS LP nhằm xây dựng kế hoạch điều độ sản xuất tối ưu.
  • Cán bộ quản lý thương mại và cung ứng nguyên liệu dầu khí: Khai thác bức tranh so sánh tính chất hóa lý giữa các nguồn condensate khu vực để phục vụ công tác đàm phán hợp đồng mua sắm dầu thô, định giá nguyên liệu và đón đầu các cơ hội chênh lệch giá thị trường.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tính chất dầu mỏ theo tiêu chuẩn quốc tế kết hợp với công cụ quy hoạch tuyến tính trong công nghiệp lọc dầu.

Câu hỏi thường gặp

Dầu condensate Hải Thạch - Mộc Tinh có đặc tính gì vượt trội so với các nguồn condensate khác trong khu vực? Dầu sở hữu tỷ trọng tương đối cao 0,8252 kg/L tương đương 39,97 °API và áp suất hơi bão hòa rất thấp 17,50 kPa. Trong khi các loại condensate khác có RVP từ 10 đến 12 psi dễ gây quá áp bể chứa, nguồn dầu này cho phép tồn trữ an toàn trong các bể chứa tiêu chuẩn của nhà máy mà không cần đầu tư cải tạo hệ thống thu hồi hơi.

Tại sao phải phối trộn mẫu với Iso-octane khi đo trị số RON cho các phân đoạn Naphtha nhẹ? Phân đoạn Naphtha C5-95 °C chứa chủ yếu paraffin mạch thẳng nên chỉ số RON tự nhiên rất thấp, thường dưới 40 điểm, nằm ngoài thang đo chuẩn của động cơ Waukesha CFR theo tiêu chuẩn ASTM D2699. Việc pha trộn với Iso-octane chuẩn giúp đưa trị số hỗn hợp lên thang đo 78-79 RON, sau đó áp dụng công thức ngoại suy để tính chính xác RON thực tế.

Việc tăng tỷ lệ phối trộn condensate có gây quá tải cho các phân xưởng hạ nguồn không? Phân đoạn cặn nặng 370 °C+ của loại condensate này chỉ chiếm 0,24% khối lượng, do đó không gây quá tải cho phân xưởng cracking xúc tác tầng sôi RFCC. Lượng Naphtha tăng thêm khoảng 37% hoàn toàn nằm trong biên độ thiết kế dư của các phân xưởng NHT và CCR khi vận hành ở mức 100% đến 105% công suất.

Cỡ mẫu 30 lít có đảm bảo tính đại diện khoa học cho toàn bộ mỏ dầu không? Mẫu 30 lít được lấy theo quy trình lấy mẫu dầu mỏ đại diện ngoài khơi, đủ khối lượng để thực hiện chưng cất phân đoạn TBP lặp lại và cung cấp thể tích cho 18 phép thử kiểm tra chéo theo tiêu chuẩn ASTM với độ lệch chuẩn thực nghiệm dưới 0,5%, đảm bảo độ tin cậy khoa học tuyệt đối.

Ứng dụng mô hình quy hoạch tuyến tính LP mang lại lợi ích cụ thể gì trong việc ra quyết định sản xuất? Mô hình LP tính toán đồng thời hàng trăm biến số về giá dầu thô, giá sản phẩm và giới hạn thiết bị, giúp dự báo chính xác mức tăng lợi nhuận biên từ 0,5 đến 1,2 USD/thùng trước khi nhà máy tiến hành nhập và nạp liệu thực tế, loại bỏ hoàn toàn các rủi ro vận hành và tài chính.

Kết luận

  • Xây dựng thành công bộ cơ sở dữ liệu Crude Assay hoàn chỉnh cho Condensate Hải Thạch - Mộc Tinh với 10 phân đoạn hẹp dựa trên 18 phương pháp phân tích chuẩn ASTM quốc tế.
  • Chứng minh dầu có tỷ trọng tối ưu 39,97 °API, áp suất hơi bão hòa an toàn 17,50 kPa và hàm lượng lưu huỳnh cực thấp 0,0588%, hoàn toàn tương thích với hệ thống tiếp nhận SPM và bể chứa 42 ha của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
  • Xác định phân đoạn Naphtha chiếm tỷ lệ cao 37,2% khối lượng với tiềm năng nâng cấp trị số Octane vượt bậc thông qua cụm công nghệ ISOM và CCR.
  • Khẳng định hiệu quả kinh tế rõ rệt thông qua mô hình quy hoạch tuyến tính LP, mang lại mức gia tăng biên lợi nhuận từ 0,5 đến 1,2 USD trên mỗi thùng dầu chế biến.
  • Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ chiến lược giữ lại nguồn condensate nội địa 21 triệu tấn để chế biến sâu, thay thế hiệu quả nguồn dầu thô Bạch Hổ đang dần cạn kiệt.

Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2024–2026 là tiếp tục mở rộng mô phỏng cho các loại condensate mỏ mới tại thềm lục địa Việt Nam. Quý độc giả và các kỹ sư quan tâm có thể tải toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết bảng số liệu 10 phân đoạn phục vụ công tác nghiên cứu và vận hành thực tế.