MỞ ĐẦU 1. Tinh cấp thiết của đề tài: Cho đến nay, tầng cát kết Oligocen hạ - Mỏ Thăng Long - Lô 02/97 - Bồn Tring Cửu Long đã được khoan thăm dd (03 giếng) và khoan phát triển (3 giếng). Công tác địa chat, địa chan, địa vật lý giếng khoan, phân tích mẫu lõi, mẫu chất lưu (PVT), kết quả thử via cũng như tình trạng khai thác di được phân tích chi tiết cho việc đánh giá lại trữ lượng tại chỗ và khoan khai thác bổ sung. Kết quả thăm dò - thâm lượng cho thấy tại đây có tầng cát kết Oligocen hạ là dạng bẫy kết hợp (địa tầng - cấu trúc) được hình thành trong môi trường quạt trầm tích, sông chẻ nhánh, đầm hỗ.
Các thân cát bị chia cắt sự biến đôi thạch học và hệ thống đứt gãy hoạt động nhiều pha từ Oligocen sớm đến Miocen muộn và hiện tại van chưa xác định được ranh giới dầu nước. Tính đa dạng về tướng đá và bất đồng nhất về thành phần thạch học là nguyên nhân dẫn đến sự bất đồng nhất, bất đăng hướng về độ rỗng, độ thắm. Kết quả khai thác ôn định và chưa có sự xuất hiện của nước cho thấy mô hình độ bão hoà nước chưa phù hợp cho việc tính toán dầu khí tại chỗ và sử dụng cho dự báo khai thác. Trước những yêu cầu thực tiễn, tác giả đã đăng ký thực hiện dé tài " ĐÁNH GIÁ TIEM NANG DẦU KHÍ TREN CƠ SO PHAN TÍCH VÀ XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP MÔ ÌNH HOA ĐỘ BAO HOA NƯỚC BAN DAU CHO TANG CAT KẾT OLIGOCEN HA - MO THANG LONG - LO 02/97 - BON TRUNG CUU LONG" làm luận văn thạc sĩ ngành Kỹ Thuật Dau Khi.
Mục tiêu nghiên cứu e Nghiên cứu, phân tích hệ các phương pháp tinh độ bão hoà nước, từ đó xác định hàm tương quan phù hợp với môi trường địa chất, đặc tính thấm chứa của tang cát kết Oligocen hạ - mỏ Thăng Long - Lô 02/97 - Bổn Trũng Cửu Long e Trên cơ sở mô hình địa chất đã có, tiễn hành mô hình hoá và hiệu chỉnh mô hình độ bão hoà nước ban dau cho tầng cát kết Oligocen hạ mỏ Thăng HIƯTH: Phan Phước Gia Trang I Luận văn thạc sĩ Mã Số: 12360769 Long nhằm nâng cao độ tin cậy của kết quả đánh giá trữ lượng dầu tại chỗ, phục vụ cho việc xây dựng mô hình thuỷ động lực, dự báo khai thác và lên phương án duy trì áp suất vỉa cũng như khai thác b6 sung. Phương pháp nghiền cứu e Phân tích, đánh giá các phương pháp mô nh hoá độ bão hoà ban đầu cũng như các hàm tương quan xác định độ bão hoà nước e Loại trừ, so sánh nhằm xác định hàm phù hợp với điều kiện địa chất va tính chất thắm chứa của tầng chứa e Mô hình hoá và hiệu chỉnh e Tham khảo, kế thừa, tiếp thu các công trình công bố liên quan và ý kiến các chuyên gia và nhà khoa học 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn e Y nghia thực tiễn: Phục vụ cho công tác đánh giá trữ lượng tại chỗ, cho phép tiễn hành dự báo khai thác, hoạch định kế hoạch khoan khai thác bổ Sung. e Ý nghĩa khoa học: Là | tai liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu liên quan đến việc mô hình hoá và hiệu chỉnh mô hình độ bão hoà nước 5.
Cơ sở tài liệu e Báo cáo thăm dò thấm lượng mỏ Thăng Long e Báo cáo nội bộ công ty Điều Hanh chung Lamson e M6 hình độ phan giải cao HRGM e Các công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước 6. Tổng quan tình hình nghiên cứu, mô hình hoá độ bão hoà nước trong nước và trên thế giới Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước va trên thé giới về phương pháp tính độ bão hoa nước ban đầu tại giéng khoan cũng như việc mô hình hoá độ bão hoà nước cho toàn bộ vỉa chứa, các phương pháp ẩ được đưa ra từ thí nghiệm, toán học cũng nhu từ tải liệu của một mỏ cu thê. HIƯTH: Phan Phước Gia Trang 2 Luận văn thạc sĩ Mã Số: 12360769 Trên thé giới: Nhìn chung, độ bão hoà nước ban đầu có thé xác định bang 4 phương pháp chính: Phương pháp 1: xác định độ bão hoà nước dựa trên độ rỗng, điện trở và các thông số vật lý vỉa: đã có nhiều phương pháp được nghiên cứu cho từng loại vỉa chứa có tính chất khác nhau như Archie, Simandoux, Indonesian, Dual Water, Waxman-Smiths.Các phương pháp này chỉ tính độ bão hoa nước ban đầu tại mỗi giếng khoan. Có thể áp dụng phương pháp này cho việc mô hình hoá cho toàn bộ vỉa chứa bằng phương pháp thống kê nhưng với độ chính xác không cao tại khu vực không có giếng khoan.
Phương pháp 2: xác định độ bão hoà nước từ tài liệu phân tích mẫu lõi. Phương pháp này được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa độ bão hoà nước với đặc tính vỉa, tính chất chất lưu và độ dâng cao của mực nước tự do (Free water level). Phương pháp này được sử dụng dé xác định cho ca độ bão hoà nước tại giếng và mo hình hoá độ bão hoà nước cho toàn bộ vỉa chứa. Đã có các công trình nghiên cứu theo phương pháp này như là: phương pháp Leverett, phương pháp Johnson, phương pháp Cuddy.
Hiện nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi cho việc mô hình hóa độ bão hoà nước cho toàn bộ via chứa. Phương pháp 3: xác định độ bão hoà nước bằng phương pháp Dean- Stark. Phương pháp nay dựa trên tài liệu phân tích mẫu lõi đư ợc lẫy từ giếng khoan dung dịch gốc dầu (Oil-based mud) và ít được sử dụng rộng rai. Phương pháp 4: kết hợp các phương pháp trên và hiệu chỉnh Nguồn tài liệu được tác gia chủ yêu tìm hiệu từ các bài báo của hiệp hội dâu khí thế giới (SPE), các hội nghị và luận văn nghiên cứu sinh của các trường đại học trong và ngoài nước.
Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích, HIƯTH: Phan Phước Gia Trang 3 Luận văn thạc sĩ Mã Số: 12360769 đánh giá và lựa chọn phương pháp mdihh hoá độ bão hoà nước theo phương pháp 2 va 4, một số công trình tiêu biểu như: Tình hình nghiên cứu trên thế giới Năm 1941 M.Leverett [9] lần đầu tiên công bố công trình nghiên cứu mô hình độ bão hoà nước dựa trên áp suất mao dẫn. Trong thí nghiệm này, tác giả đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của sức căng bề mặt giữa các chất lưu (ø) và tinh chất đất đá như là độ thâm (k), độ rỗng (®) lên áp suất mao dẫn. Dựa trên thí nghiệm này, ông di xây dựng ham J = a(Sw)° và được sử dụng cho đên hiện nay. Đến năm 1987, Johnson [10] đã dé xuất một hướng khác nghiên cứu độ bão hoà nước dựa trên áp suất mao dẫn.
Phương pháp này được thí nghiệm trên mỗi loại đá đặc trưng, đo áp suất mao dẫn trên mẫu lõi có độ thấm khác nhau nhưng có quan hệ theo qui luật toán học. Trên cơ sở đó, ông đã xây dựng được méi quan hệ toán học giữa áp suất mao dẫn và độ thắm theo quan hệ tuyến tính trên biểu độ log-log. Độ thấm trung bình mà Johnsonđưa ra là hàm thực nghiệm cho mối quan hệ giữa áp suất mao dẫn, độ bão hoà nước và độ thấm. Phương pháp của Johnson được áp dụng khá hiệu quả cho các via chứa tại khu vực Biên Bac.
Năm 1993, Cuddy [11] và các nhà nghiên cứu khác đã công bố mối quan hệ giữa độ rỗng, độ bão hoà nước va cao độ của mực nước (free water level) theo hàm log. Môi quan hệ được xây dựng dựa trên số liệu của vỉa khí vùng phía Nam khu vực Biển Bắc. Tại vỉa nảy, trên đới chuyển tiếp, các thí nghiệm cho thấy khi độ rỗng tăng thi đ 6 bão hoà nước giảm và ngược lại. Phương pháp của Cuddy không phụ thuộc vào tính chất thạch học của đất đá.
Phương pháp của Cuddy khá đơn giản và dễ sử dụng so với phương pháp khác. Phương pháp này hiệu quả cho các vỉa khí ở phía Nam khu vực Biển Bac. FAIVTH: Phan Phước Gia Trang 4 Luận văn thạc sĩ Mã Số: 12360769 Năm 1995, Skelt [12] và các nhà nghiên cứu khác đã sử dụng phương pháp kết hợp giữa áp suất mao dan và tài liệu log. Theo phương pháp nay, ban đầu xác định áp suất mao dẫn từ tài liệu SCAL, sau đó được dùng để hiệu chỉnh với độ bão hoà nước tính từ log.
Mỗi điểm có thể có trọng số khác nhau trong quá trình hồi quy. Phương pháp nay khá hiệu quả cho đới chuyền tiếp và các phân nhóm thạch học khác nhau. Phương pháp này được sử dụng hiệu quả cho các vỉa chứa với tính chất thạch học khác nhau. Tình hình nghién CỨUN trong Hước Năm 2004, Tran Văn Xuân [3] lần đầu tiên nghiên cứu hoàn chỉnh đặc điểm nước via trong mỏ dau của bồn tring Cửu Long trong luận án tiến sĩ.
Trên cơ sở phân tích, tổ hợp các phương pháp nghiên cứu, tiễn hành thu thập, phân loại, xử lý các thông tin địa chất, dia chất thuỷ van, địa vật ly, thử via.dé xác lập đặc điểm địa chất thuỷ văn của bồn tũng. Từ đó xác lập các đặc điểm thuỷ địa hoá, phân tích sự hình thành các đ ặc điểm đó và xác lập các dau hiệu thuỷ địa hoá trong tìm kiếm dầu khí. Tính toán mức độ ảnh hưởng đến khả năng chứa thấm của thành hệ dầu khí do sa lăng các thành phần của nước vỉa khi khai thác dầu khí. Từ kết quả nghiên cứu dé xuất yêu cau va tiêu chuân chọn nước dùng cho bơm ép.
Năm 2009, trong luận án thạc sĩ của mình, Nguyễn Văn Tuân [4] đã phân tích đặc điểm địa chất, đặc điểm tầng chứa, đặc tính chất lưu, động thái và chế độ khai thác của mỏ, của các giếng khai thác và bơm ép nước, phân tích các dấu hiệu và đánh giá về sự tồn tại của nước via. Xác định sự bién đôi thành phan hoá học của nước khai thác và bơm ép trong điều kiện via. Phân tích các thành phần hoá học, đồng vị phóng xạ Radium, các đồng vị bền của nước bơm ép và khai thác làm cơ sở để xác định nguồn gốc của nước khai thác tầng móng mỏ Sư Tử Đen để từ đó thiết lập các chế độ khai thác và bơm ép nước phù hợp và phương án phát triển mỏ lâu dài.