CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Chương này tác giả trình bày tổng quan về công tác phân bổ lại sản lượng khai thác và các khó khăn trong việc phân bổ lại sản lượng hiện nay. Từ đó đề tài tìm hiểu về các công trình nghiên cứu liên quan, những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà luận văn quan tâm. Trong chương này, tác giả giải thích vì sao lựa chọn mạng nơ-ron làm phương pháp nghiên cứu để giải quyết bài toán đặt ra và đồng thời tóm tắt quy trình nghiên cứu.1 Giới thiệu công tác phân bổ lại sản lượng khai thác a. Mục đích Trong lĩnh vực dầu khí, khi không có các đồng hồ đo tại từng đầu giếng mà chỉ có thể đo được tổng lưu lượng khai thác của một cụm giếng thì việc phân bổ lại sản lượng [2] sẽ giúp các kỹ sư biết được lưu lượng đang hoạt động của từng giếng.
Các thông tin này sẽ giúp cho kỹ sư biết được hiện trạng khai thác của giếng và đề ra các biện pháp cải thiện nếu cần thiết. Phương pháp thực hiện Công tác phân bổ lại sản lượng khai thác hiện nay thường được thực hiện vào mỗi cuối tháng do phải chờ việc kiểm tra được thực hiện hoàn tất cho tất cả các giếng trong cụm / mỏ (Well Test). Ví dụ dưới đây cho thấy một mô hình khai thác tiêu biểu cho một mỏ. Lưu lượng khai thác của giàn “B” và giàn “C” sẽ được đưa về hệ thống khai thác của giàn “A”.
Tại giàn “A”, dòng sản phẩm của “A”, “B” và “C” sẽ được đưa qua hệ thống xử lý khai thác. Cũng tại hệ thống xử lý này, tổng sản lượng khai thác của toàn mỏ sẽ được đo đạc thông qua các đồng hồ đo được lắp đặt từ trước.1: Sơ đồ mạng lưới khai thác hỗ trợ tính toán phân bổ lại sản lượng ∑ Trang 9 Trong đó: N : tổng số giếng QT : tổng lưu lượng của mỏ Ci : lưu lượng đo được của giếng thứ “i” Qi : lưu lượng ước tính của giếng thứ “i” sau khi phân bổ lại sản lượng FF : Hệ số khai thác (Field Factor) của mạng lưới Thông số Ci đo được trong quá trình kiểm tra giếng. Các kỹ sư sẽ tiến hành kiểm tra giếng trong mỏ sớm nhất có thể. Tùy theo số lượng của giếng trong mỏ, để hoàn tất và thu thập được thông số Ci cho tất cả các giếng thì các kỹ sư có thể phải thực hiện trong vòng 1 tháng hoặc nhiều hơn.2: Ví dụ về thời gian kiểm tra giếng trong tháng c.
Kết quả phân bổ lại sản lượng Khi thực hiện phân bổ lại sản lượng khai thác, các kỹ sư sẽ ước lượng được lưu lượng của từng giếng trong mỏ. Tuy nhiên, kết quả ước lượng phụ thuộc rất nhiều vào số lượng và chất lượng của công tác kiểm tra giếng (Well Test). Trang 10 o Nếu có thể thực hiện được nhiều lần kiểm tra giếng (cho một giếng trong một tháng) thì sẽ có nhiều điểm đo hơn để cập nhật công tác phân bổ. o Nếu chất lượng của kiểm tra giếng tốt (được kỹ sư chấp nhận) thì kết quả phân bổ sẽ chính xác hơn.2 Những khó khăn trong công tác phân bổ lại sản lượng khai thác Những khó khăn hiện nay trong công tác quản lý sản lượnng khai thác như sau: o Do số lượng giàn trong mỏ là khá nhiều, trong đó có những giàn không có kỹ sư thường trực (không có thiết kế chổ ở cho kỹ sư ở lại) do đó mỗi ngày kỹ sư phải lái thuyền đi đến các giàn để ghi chép số liệu.
Chính vì vậy số liệu không được cập nhật thường xuyên và phải phụ thuộc vào thời tiết để có thể lái thuyền ra giàn. Do đó, mỗi ngày chỉ có 1 số liệu được đo đại diện cho giếng hoặc thiết bị (máy nén, máy tách nước…). o Với số lượng giếng hoạt động trong mỗi khu vực mỏ thường khá nhiều (khoảng 70 giếng) thì công tác kiểm tra giếng trong toàn mỏ có thể thực hiện được trong một ngày là từ 2 đến tối đa 3 giếng. Như vậy, số liệu kiểm tra chỉ có thể cập nhật sớm nhất cho từng giếng là vào tháng tiếp theo (trung bình mỗi giếng được kiểm tra 1 lần/tháng).
Tuy nhiên, nếu như quá trình kiểm tra giếng không đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu thì các giá trị đo sẽ không được chấp nhận và giếng phải được kiểm tra lại đến khi đạt yêu cầu. Do đó, số liệu kiểm tra đạt tiêu chuẩn có thể sẽ không được cập nhật thường Trang 11 xuyên (trong vòng 1 tháng) mà có thể chậm trễ đến 2 hoặc hơn 3 tháng. o Nhiều giếng không có đồng hồ đo do tuổi đời mỏ lâu, thiết bị cũ, nếu lắp đặt đồng hồ đo 3 pha ở đầu giếng thì rất đắt, không kinh tế. o Quản lý phức tạp do nhiều giàn và thiếu kinh nghiệm quản lí mỏ, thông tin cập nhật không đầy đủ và thông tin không được phổ biến rộng rãi giữa các bộ phận trong công ty.3 Các nghiên cứu liên quan Khảo sát các nghiên cứu gần đây cho thấy có rất ít bài viết đề cập đến vấn đề tối ưu hóa hay nâng cao chất lượng của công tác phân bổ lại sản lượng.
Tuy nhiên cũng có một vài nghiên cứu được đưa ra: Marwan Hamad, Satheesh Sudharman và Ali Al–Mutairi (2004) đã nghiên cứu sử dụng bản đồ tương quan giữa các thiết bị hoạt động trong mạng lưới khai thác để định lượng khả năng khai thác của giếng. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ hỗ trợ thể hiện mối liên hệ giữa các thiết bị khai thác, các đồng hồ đo và sơ đồ dòng chảy nhằm mục đích kiểm tra chất lượng phân bổ lại sản lượng chứ không trực tiếp đề xuất giải pháp cụ thể dạng mô hình hoặc công thức tính toán. Tùy theo từng đối tượng sử dụng bản đồ mối liên hệ này mà kết quả phân bổ lại sản lượng cuối cùng có thể khác nhau. Chorneyko (2006) đã đề xuất sử dụng đồng hồ đo áp suất lắp đặt dưới đáy giếng và sử dụng một mô hình vỉa dầu đơn giản để ước lượng lưu lượng khai thác khi áp suất ở đáy giếng thay đổi.
Phương pháp này đòi hỏi phải lắp đặt thêm thiết bị đo ở đáy giếng. Để thực hiện được điều này cho một giếng đang khai thác thì phải tiến hành dập giếng (ngưng toàn bộ khai thác của giếng, ngăn không cho dòng khai thác tiếp tục Trang 12 chảy vào đáy giếng). Điều này khá mạo hiểm và tốn kém vì có thể dẫn đến việc giếng không thể tiếp tục hoạt động trở lại sau khi hoàn tất quá trình lắp đặt đồng hồ đo dưới đáy giếng. Mô hình được sử dụng là một dạng đơn giản hóa của mô hình vỉa dầu để khảo sát hoạt động của một giếng đơn lẻ, chưa thể đánh giá được sự ảnh hưởng khi hoạt động chung với các giếng khác trong mạng lưới.
Leonidas Kappos, Michael J. Economides và Roberto Buscaglia (2011) đã thực hiện việc tính toán phân bổ lại sản lượng dựa trên mô hình mạng lưới giếng khai thác. Các tác giả đã mô phỏng lại mạng lưới giếng khai thác bằng phần mềm và thực hiện nhiều thay đổi trên các thông số của mô hình để cố gắng đưa kết quả cuối cùng gần đúng với số liệu đo thực tế. Phương pháp này không thành công khi chương trình mô phỏng không hội tụ do nhiều nguyên nhân.
Đồng thời, các phương trình dòng chảy sử dụng trong mô hình là các mô hình thực nghiệm dựa trên thông số của các khu vực khác nên không thể khẳng định được kết quả hoàn toàn chính xác, chỉ có thể mang tính chất ước lượng. Số liệu hoạt động khai thác thay đổi liên tục cần phải được cập nhật và tinh chỉnh mô hình sao cho kết quả gần đúng với thực tế, tuy nhiên công tác cập nhật và tinh chỉnh mô hình tốn rất nhiều thời gian và công sức, đồng thời không đảm bảo được chất lượng kết quả cuối cùng. Dựa vào phần khảo sát và phân tích trên, tác giả nhận thấy các nghiên cứu về phân bổ lại sản lượng khai thác gần đây vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa giải quyết triệt để các vấn đề còn tồn tại. Trên thực tế, mỏ Samarang đã khai thác từ rất lâu (1975) nên để có thể lắp đặt các thiết bị tiên tiến phục vụ việc nghiên cứu khai thác là khá tốn kém trong bối cảnh công ty Petronas cần phải đầu tư một cách thông minh vào khu vực mỏ.
Bên cạnh đó, độ phức tạp về cấu trúc mạng lưới khai thác trong mỏ yêu cầu cần phải tính toán Trang 13 chính xác lưu lượng phân bố tại từng giếng sao cho phù hợp với tổng sản lượng đo được. Hiện nay, công tác xây dựng mô hình mạng lưới giếng cho mỏ khá phức tạp đòi hỏi khá nhiều kinh nghiệm từ các kỹ sư vận hành và yêu cầu đặt ra là phải cập nhật mô hình liên tục để đảm bảo tính chính xác của lưu lượng ước tính (trong thực tế, mô hình của mạng lưới được cập nhật từ 1 đến 1. Do đó, luận văn cố gắng đề xuất một hướng tiếp cận mới phù hợp với điều kiện vận hành thực tế của mỏ Samarang.4 Vì sao dùng phương pháp mạng nơ-ron Trong công tác phân bổ lại sản lượng, việc ước lượng hay tính toán lưu lượng khai thác của từng giếng riêng rẻ là rất phức tạp vì những lí do sau đây: - Có rất nhiều thông số đầu vào ảnh hưởng đến lưu lượng dòng chảy. Các thông số này liên tục thay đổi theo thời gian và chỉ có một số ít trong các thông số đó được đo đạc cụ thể, các thông số còn lại chỉ có được thông qua các phương pháp ước lượng mà thông thường mắc phải nhiều sai số.
- Hiện tại, chưa có mô hình toán học nào có thể tính toán lưu lượng khai thác một cách chính xác hoàn toàn (chỉ có thể ước lượng dựa trên các phương trình thực nghiệm xây dựng dựa trên các điều kiện vận hành khai thác tương tự) trong khi lưu lượng khai thác của từng giếng là một hàm phi tuyến phức tạp bao gồm các yếu tố khác nhau như: áp suất đáy giếng, nhiệt độ đáy giếng, áp suất đầu giếng, nhiệt độ đầu giếng, lưu lượng khí gas lift bơm ép vào giếng, áp suất của đường ống thu gom sản phẩm. - Các phương pháp cổ điển thông thường như phương pháp hồi quy hay nội suy trong trường hợp này có thể không cho độ chính xác đủ Trang 14 lớn. Dựa vào số liệu kiểm tra giếng hằng tháng, các kỹ sư ước lượng được sản lượng khai thác trung bình của giếng đó.