Chương I: Đặc điểm địa chất của cấu tạo Bạch Hổ. Chương II : Phương pháp nghiên cứu đá móng mỏ Bạch Hổ. Chương III: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính chất thấm chứa của đá móng mỏ Bạch Hổ. Chương IV: Lịch sử hình thành cấu tạo Bạch Hổ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phân tích tổng hợp tài liệu đặc điểm địa chất của cấu tạo mỏ Bạch Hổ: - Phương pháp luận. - Nghiên cứu địa kiến tạo. - Minh giải tài liệu địa chấn kết hợp với tài liệu khoan. - Các phương pháp địa vật lý giếng khoan.
- Phân tích mẫu lõi. - Phân tích lát mỏng thạch học – khoáng vật bằng kính hiển vi. - Thành lập các mặt cắt địa chất. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Quá trình hình thành tính thấm chứa của đá móng giải thích khám phá tại sao đá móng chứa dầu.
Đá móng nứt nẻ đem lại ý nghĩa quyết định đối với công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. 1 CHƢƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CỦA CẤU TẠO BẠCH HỔ 1. Khái quát chung 1. Vị trí địa lý, kinh tế nhân văn của khu vực nghiên cứu Mỏ Bạch Hổ thuộc thềm lục địa Nam Việt Nam trong phạm vi lô 09, cách thành phố Vũng Tàu 120km về phía Đông Nam.
Vũng Tàu hiện là trung tâm công nghiệp dầu khí của Việt Nam và là căn cứ dịch vụ kỹ thuật của VSP.1 là sơ đồ vị trí mỏ Bạch Hổ.1 Sơ đồ vị trí mỏ Bạch Hổ Ngoài mỏ Bạch Hổ, hàng loạt các mỏ khác trên thềm lục địa Nam Việt Nam đang tiến hành khai thác dầu từ đá móng trước Kainozoi tại các mỏ như: Rồng, Rubi, Rạng Đông (JPV), Sư Tử Đen (JOC Cửu Long), Cá Ngừ Vàng, Tê Giác Trắng… 2 1. Khí hậu Mỏ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa. Mùa hè mưa nhiều, nhiệt độ không khí khoảng 25 ÷ 32oC, mùa đông nhiệt độ 24 ÷ 30oC. Mùa hè kéo dài từ tháng sáu tới tháng chín, là mùa gió Tây-Nam, thường có mưa ngắn nhưng lớn và gió giật đạt tốc độ 25m/giây.
Độ ẩm không khí đạt tới 87 ÷ 89%. Mùa đông kéo dài từ tháng mười một tới tháng ba năm sau với gió mùa chủ yếu là Đông-Bắc với tốc độ có thể đạt tới 20m/giây, tạo nên sóng biển cao 5 ÷ 8m. Những trận cuồng phong có tốc độ gió đạt tới 60m/giây và gây nên sóng lớn cao tới 10m. Thời gian thuận lợi cho công tác trên biển là giai đoạn gió mùa Đông Nam từ tháng 6 tới tháng 9, cũng như trong các tháng tư, năm và mười một khi mà gió mùa chuyển hướng.
Dòng chảy dưới biển chịu ảnh hưởng của gió mùa và thủy triều. Tốc độ dòng chảy ở độ sâu khoảng 15 tới 20m đạt 85cm/giây, ở lớp nước gần đáy thay đổi từ 20 tới 30 cm/giây. Nhiệt độ nước biển trong năm thay đổi từ 25 tới 30 oC, độ mặn thay đổi từ 33 tới 35g/l. Chiều sâu nước biển trong vùng mỏ khoảng 50m, điều này cho phép sử dụng các giàn khoan cố định và tự nâng.
Theo số liệu địa chất công trình, phần lát cắt sát đáy phía trên (theo tính chất của đất đá) thuận lợi cho việc xây dựng các công trình mỏ. Lịch sử nghiên cứu Mỏ Bạch Hổ được phát hiện vào tháng 3 năm 1975. Giếng BH-1 do công ty Mobil khoan ở phần đỉnh cấu tạo (được xây dựng chủ yếu theo tài liệu thăm dò địa chấn 2D) là giếng khoan đầu tiên phát hiện dầu tại khu vực mỏ. Khi thử giếng khoan này đã thu được dòng dầu từ cát kết có tuổi Mioxen sớm.
Sau khi thành lập VSP, từ năm 1983 công tác tìm kiếm-thăm dò trên mỏ được thực hiện đều đặn và đã phát hiện ra dầu ở Oligoxen (năm 1985), tiếp đó là trong móng (năm 1986). Mục tiêu của giai đoạn đầu trong những năm 1983-1987 là thăm dò các tầng sản phẩm trong trầm tích thuộc Mioxen dưới, sau năm 1987 là đối tượng móng. Trước năm 1992 việc đặt giếng khoan thăm dò được thực hiện trên cơ sở tài liệu địa chấn 2D, còn ở những năm tiếp theo được thực hiện theo tài liệu địa chấn 3D. 3 Mỏ Bạch Hổ được bắt đầu khai thác từ tháng sáu năm 1986.
Cụ thể, các tầng sản phẩm thuộc các đối tượng lần lượt được đưa vào khai thác từ các năm 1986 (Mioxen dưới); 1987 (Oligoxen trên, Oligoxen dưới) và 1988 (móng trước Kainozoi). Tính tới tháng 1 năm 2006 sản lượng dầu của toàn mỏ là 146,164 triệu tấn, trong đó trên 133 triệu tấn từ móng, 8,5 triệu tấn từ Oligoxen dưới, 0,207 triệu tấn từ Oligoxen trên và 3,4 triệu tấn từ Mioxen dưới. Tới thời điểm hiện tại, công tác đánh giá trữ lượng dầu trong đá móng chủ yếu dựa trên phương pháp thể tích. Việc phân chia các vùng tính trữ lượng chủ yếu dựa trên các kết quả nghiên cứu thủy động lực.
Đá móng là một đối tượng địa chất rất phức tạp, cấu trúc địa chất và thành phần vật chất bất đồng nhất cao. Do đó, việc sử dụng phương pháp thể tích để đánh giá trữ lượng cũng như chỉ dựa trên kết quả nghiên cứu thủy động lực để xây dựng sơ đồ công nghệ sẽ bị nhiều hạn chế và có độ tin cậy không cao (nhiều giếng, vùng bị ngập nước sớm hơn dự tính). Đặc điểm địa tầng Lát cắt địa chất chung nhất của mỏ Bạch Hổ gồm móng kết tinh trước Kainozoi và trầm tích lục nguyên Kainozoi. Chiều sâu lớn nhất khoan vào móng là 2118m (giếng 435), còn đối với trầm tích thì chiều sâu đạt tới 4406m (giếng 9).2 là cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ.
Móng trước Kainozoi Gồm đá macma granitoid kết tinh cùng các đai mạch diabaz và bazan-andezit porfia hình thành trước Kainozoi, gọi chung là đá móng hoặc móng granitoid trước Kainozoi. Đá móng đặc trưng bởi tính bất đồng nhất thạch học cao. Theo số liệu mẫu lõi, trên Khối Trung Tâm phát triển chủ yếu là đá granit biotit và granit hai mica; Khối Bắc bao gồm đá granodiorit biotit sáng xám và adamelit cùng với monzonit thạch anh, monzodiorit thạch anh và diorit á kiềm; Khối Nam bao gồm đá granit (khu vực giếng 18), granodiorit (khu vực giếng 17), monzodiorit thạch anh (khu vực giếng 7). Đá móng bị biến đổi thứ sinh ở những mức độ khác nhau.
Trong số những khoáng vật thứ sinh, phát triển mạnh nhất là zeolit và canxit. 4 Kết quả xác định tuổi tuyệt đối đá móng theo phương pháp phóng xạ cho thấy các thành tạo granitoid mỏ Bạch Hổ có tuổi thay đổi trong khoảng 242±5 triệu năm (ứng với Triat muộn) tới 89 triệu năm (ứng với Creta muộn). Đá móng thuộc khối nâng Bạch Hổ có độ hang hốc, nứt nẻ cao và chứa dầu lớn. Trầm tích Kainozoi Gồm các hệ tầng Paleogen (thống Eoxen muộn – Oligoxen), Neogen (thống Mioxen, Plioxen) và Đệ tứ, chúng còn được chia nhỏ hơn thành 6 điệp với các tên gọi địa phương.
Trong Oligoxen có hai điệp đó là điệp Trà Cú – Eoxen muộn – Oligoxen dưới và điệp Trà Tân – Oligoxen trên. Trong Mioxen gồm 3 điệp: điệp Bạch Hổ – Mioxen dưới, điệp Côn Sơn – Mioxen giữa và điệp Đồng Nai – Mioxen trên. Trầm tích Plioxen và Đệ tứ được kết hợp chung vào điệp Biển Đông. Các thân dầu thương mại tập trung trong các tập cát kết của các điệp Trà Cú, Trà Tân và Bạch Hổ.
Điệp Cà Cối (Eoxen muộn – E32) Được phát hiện ở trũng Định An (Cl-1X) là các cuội, sạn, sỏi, bột và sét xen kẽ (200m). Trong phạm vi cấu tạo Bạch Hổ ở phần cao chúng không được phát hiện. Song ở các trũng sâu chúng có thể tồn tại như ở trũng Đông Bạch Hổ, trũng Tây Bạch Hổ, trũng Bắc Bạch Hổ. Bề dày có thể đạt tới 800m.
Điệp Trà Cú (Pg 31- tc) Điệp này được phân chia trong khoảng giữa các mặt phản xạ SH-BSM và SH- 11 (Eoxen muộn – Oligoxen sớm) tương ứng với tập F đặc trưng là các lớp cát kết hạt trung, nhỏ mầu sáng xám xen kẽ với các lớp bột kết mầu đỏ nâu cùng các vỉa sỏi kết, than, đá núi lửa bazơ mỏng. Trầm tích vắng mặt trên đỉnh Khối Trung Tâm và một phần ở Khối Bắc. Chiều dày trầm tích lớn nhất đạt 600m (quan sát được ở phần cánh cấu tạo). Điệp này được thành tạo trong môi trường lục địa với các tướng sông, hồ và đầm lầy.2 Cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ 6 Điệp Trà Tân (Pg32 - tt) Điệp này được giới hạn trong khoảng giữa các mặt phản xạ SH-11 và SH-7 (Oligoxen trên) gồm hai tầng.
Theo pháp danh mỏ, chúng được gọi tên từ trên xuống dưới là tầng thứ nhất và tầng thứ hai. Tầng thứ nhất nằm ở phía trên, giữa SH-10 và SH-7, chủ yếu là sét và sét kết với chiều dày từ 45 tới 1000m. Tầng thứ hai thuộc phần dưới của lát cắt nằm giữa SH-11 và SH-10 tương ứng với tập địa chấn E gồm cát và sét kết với chiều dày từ 0 tới 800m. Trên tập E là các trầm tích tập D và C, bao gồm các lớp sét dày tướng biển là phổ biến phủ lên tất cả các trầm tích cổ hơn.
Điệp được cấu tạo bởi xen kẽ giữa các lớp sét kết (chiếm từ 40 tới 70%), bột và cát kết. Đá có màu xám, xám sẫm và nâu đỏ. Xi măng cacbonat. Ở phần trên của lát cắt là sét kết màu đen có hàm lượng chất hữu cơ cao đạt từ 1 tới 10%.
Trong lát cắt của nhiều giếng khoan bắt gặp các vỉa đá bazơ có nguồn gốc núi lửa dày tới 20m và đôi khi bắt gặp các vỉa than mỏng. Điệp được thành tạo trong môi trường lục địa, tướng sông, hồ, đầm lầy và môi trường biển nông ven bờ. Điệp Bạch Hổ ( N11-bh) Điệp này được giới hạn giữa các mặt phản xạ SH-7 và SH-3 (Mioxen dưới) gồm các lớp cát kết, bột kết và sét kết, sét xen kẽ, màu xám, xám tối và loang lổ. Theo thành phần thạch học thì điệp này có thể được chia thành hai phụ điệp: Phụ điệp Bạch Hổ dưới, giới hạn bởi SH-5 và SH-7, có thành phần cát-sét kết và phụ điệp Bạch Hổ trên, giới hạn bởi SH-5 và SH-3, chủ yếu là sét.
Ở nóc điệp bắt gặp một tầng sét montmorilonit dày và sét kết có diện tích phát triển rộng, thường được dùng làm tầng tựa và được gọi với tên "sét rotalit". Chiều dày của tầng sét rotalit thay đổi từ 35m ở phía Nam Bạch Hổ tới 150m ở phần Đông Bắc mỏ. Phụ điệp Bạch Hổ dưới được thành tạo trong điều kiện vũng vịnh, đồng bằng châu thổ. Phụ điệp Bạch Hổ trên thuộc tướng biển nông, ven bờ.
Nhìn chung chiều dày của điệp thay đổi từ 770 tới 900m.