Luận Văn Thạc Sĩ Địa Chất Dầu Khí: Nghiên Cứu Tính Thấm Chứa Đá Móng Granitoid Tại Mỏ Bạch Hổ

Luận văn thạc sĩ địa chất dầu khí nghiên cứu quá trình hình thành tính thấm chứa của đá móng granotoid tại mỏ Bạch Hổ, ứng dụng trong khai thác dầu khí hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

106
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục đích nghiên cứu

Luận Văn Thạc Sĩ này tập trung vào việc Ứng Dụng các phương pháp nghiên cứu để hiểu rõ Quá Trình Hình Thành Tính Thấm của Đá Móng Granitoid tại Mỏ Bạch Hổ. Mục đích chính là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính thấm chứa của đá móng, từ đó hỗ trợ công tác Khai Thác Dầu Khí hiệu quả hơn. Đây là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực Địa Chất Dầu Khí, đặc biệt khi Mỏ Bạch Hổ là một trong những mỏ dầu lớn nhất tại Việt Nam.

1.1. Tầm quan trọng của đề tài

Mỏ Bạch Hổ là một trong những mỏ dầu quan trọng nhất tại Việt Nam, với trữ lượng dầu khí lớn tập trung trong Đá Móng Granitoid. Việc nghiên cứu Quá Trình Hình Thành Tính Thấm giúp hiểu rõ cơ chế tích tụ dầu khí trong đá móng, từ đó tối ưu hóa quá trình Khai Thác Tài Nguyên. Nghiên cứu này cũng góp phần vào việc phát triển Khoa Học Địa ChấtKỹ Thuật Dầu Khí tại Việt Nam.

1.2. Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố nội lực và ngoại lực ảnh hưởng đến Tính Thấm của Đá Móng Granitoid, bao gồm hoạt động magma, kiến tạo, phong hóa bề mặt, và áp lực địa tĩnh. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất các phương pháp Khai Thác Dầu Khí hiệu quả hơn tại Mỏ Bạch Hổ.

II. Đặc điểm địa chất của Mỏ Bạch Hổ

Mỏ Bạch Hổ nằm trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam, thuộc bồn trũng Cửu Long. Đây là một trong những mỏ dầu lớn nhất tại Việt Nam, với trữ lượng dầu khí chủ yếu tập trung trong Đá Móng Granitoid. Đá móng tại đây có cấu trúc phức tạp, với nhiều đứt gãy và khe nứt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ dầu khí.

2.1. Cấu trúc địa chất

Mỏ Bạch Hổ có cấu trúc địa chất đa dạng, bao gồm các lớp trầm tích Kainozoi và đá móng granitoid. Đá móng được hình thành từ các quá trình magma và kiến tạo, tạo nên các khe nứt và hang hốc, là nơi tích tụ dầu khí chính. Các đứt gãy và khe nứt này là kết quả của các hoạt động kiến tạo kéo dài từ kỷ Trias đến kỷ Creta.

2.2. Đặc điểm thạch học

Đá móng tại Mỏ Bạch Hổ chủ yếu là granitoid, bao gồm granit biotit, granodiorit, và monzonit thạch anh. Các khoáng vật thứ sinh như zeolit và canxit cũng được tìm thấy, góp phần vào việc tăng Tính Thấm của đá móng. Các nghiên cứu thạch học cho thấy đá móng có độ hang hốc và nứt nẻ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích tụ dầu khí.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính thấm chứa

Quá Trình Hình Thành Tính Thấm của Đá Móng Granitoid tại Mỏ Bạch Hổ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm hoạt động magma, kiến tạo, phong hóa bề mặt, và áp lực địa tĩnh. Các yếu tố này tương tác với nhau, tạo nên các khe nứt và hang hốc, làm tăng Tính Thấm của đá móng.

3.1. Hoạt động magma

Hoạt động magma đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khe nứt và hang hốc trong Đá Móng Granitoid. Quá trình lạnh nguội và co ngót của magma tạo ra các vết rạn và vi khe nứt, làm tăng Tính Thấm của đá móng. Thành phần thạch khoáng của magma cũng ảnh hưởng đến sự hình thành các khe nứt này.

3.2. Hoạt động kiến tạo

Các hoạt động kiến tạo như vận động lên xuống, dịch trượt ngang, và vặn xoay tạo điều kiện hình thành các đới dập vỡ và mở rộng khe nứt. Những hoạt động này làm liên thông các hang hốc, tăng Tính Thấm của đá móng. Đây là yếu tố quyết định trong việc hình thành các bẫy dầu khí tại Mỏ Bạch Hổ.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp địa chất và địa vật lý để phân tích Quá Trình Hình Thành Tính Thấm của Đá Móng Granitoid tại Mỏ Bạch Hổ. Các phương pháp bao gồm phân tích mẫu lõi, minh giải tài liệu địa chấn, và sử dụng kính hiển vi để nghiên cứu thạch học và khoáng vật.

4.1. Phân tích mẫu lõi

Phân tích mẫu lõi là phương pháp chính để nghiên cứu Tính Thấm của Đá Móng Granitoid. Các mẫu lõi được lấy từ các giếng khoan tại Mỏ Bạch Hổ, sau đó được phân tích để xác định độ rỗng và độ thấm của đá móng. Kết quả phân tích giúp hiểu rõ cấu trúc và thành phần của đá móng.

4.2. Minh giải tài liệu địa chấn

Minh giải tài liệu địa chấn giúp xác định cấu trúc địa chất và các đứt gãy tại Mỏ Bạch Hổ. Phương pháp này kết hợp với tài liệu khoan để xây dựng các mặt cắt địa chất, từ đó hiểu rõ Quá Trình Hình Thành Tính Thấm của đá móng.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ Quá Trình Hình Thành Tính Thấm của Đá Móng Granitoid tại Mỏ Bạch Hổ, với các yếu tố chính bao gồm hoạt động magma, kiến tạo, và phong hóa bề mặt. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa quá trình Khai Thác Dầu Khí tại mỏ này.

5.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu góp phần vào việc phát triển Khoa Học Địa ChấtKỹ Thuật Dầu Khí, đặc biệt trong việc hiểu rõ cơ chế tích tụ dầu khí trong Đá Móng Granitoid. Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở cho các nghiên cứu tương tự tại các mỏ dầu khác.

5.2. Kiến nghị thực tiễn

Đề xuất áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến để tăng hiệu quả Khai Thác Dầu Khí tại Mỏ Bạch Hổ. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến Tính Thấm của đá móng để tối ưu hóa quá trình khai thác.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Đặc điểm địa chất của cấu tạo Bạch Hổ. Chương II : Phương pháp nghiên cứu đá móng mỏ Bạch Hổ. Chương III: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính chất thấm chứa của đá móng mỏ Bạch Hổ. Chương IV: Lịch sử hình thành cấu tạo Bạch Hổ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phân tích tổng hợp tài liệu đặc điểm địa chất của cấu tạo mỏ Bạch Hổ: - Phương pháp luận. - Nghiên cứu địa kiến tạo. - Minh giải tài liệu địa chấn kết hợp với tài liệu khoan. - Các phương pháp địa vật lý giếng khoan.

- Phân tích mẫu lõi. - Phân tích lát mỏng thạch học – khoáng vật bằng kính hiển vi. - Thành lập các mặt cắt địa chất. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Quá trình hình thành tính thấm chứa của đá móng giải thích khám phá tại sao đá móng chứa dầu.

Đá móng nứt nẻ đem lại ý nghĩa quyết định đối với công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. 1 CHƢƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT CỦA CẤU TẠO BẠCH HỔ 1. Khái quát chung 1. Vị trí địa lý, kinh tế nhân văn của khu vực nghiên cứu Mỏ Bạch Hổ thuộc thềm lục địa Nam Việt Nam trong phạm vi lô 09, cách thành phố Vũng Tàu 120km về phía Đông Nam.

Vũng Tàu hiện là trung tâm công nghiệp dầu khí của Việt Nam và là căn cứ dịch vụ kỹ thuật của VSP.1 là sơ đồ vị trí mỏ Bạch Hổ.1 Sơ đồ vị trí mỏ Bạch Hổ Ngoài mỏ Bạch Hổ, hàng loạt các mỏ khác trên thềm lục địa Nam Việt Nam đang tiến hành khai thác dầu từ đá móng trước Kainozoi tại các mỏ như: Rồng, Rubi, Rạng Đông (JPV), Sư Tử Đen (JOC Cửu Long), Cá Ngừ Vàng, Tê Giác Trắng… 2 1. Khí hậu Mỏ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa. Mùa hè mưa nhiều, nhiệt độ không khí khoảng 25 ÷ 32oC, mùa đông nhiệt độ 24 ÷ 30oC. Mùa hè kéo dài từ tháng sáu tới tháng chín, là mùa gió Tây-Nam, thường có mưa ngắn nhưng lớn và gió giật đạt tốc độ 25m/giây.

Độ ẩm không khí đạt tới 87 ÷ 89%. Mùa đông kéo dài từ tháng mười một tới tháng ba năm sau với gió mùa chủ yếu là Đông-Bắc với tốc độ có thể đạt tới 20m/giây, tạo nên sóng biển cao 5 ÷ 8m. Những trận cuồng phong có tốc độ gió đạt tới 60m/giây và gây nên sóng lớn cao tới 10m. Thời gian thuận lợi cho công tác trên biển là giai đoạn gió mùa Đông Nam từ tháng 6 tới tháng 9, cũng như trong các tháng tư, năm và mười một khi mà gió mùa chuyển hướng.

Dòng chảy dưới biển chịu ảnh hưởng của gió mùa và thủy triều. Tốc độ dòng chảy ở độ sâu khoảng 15 tới 20m đạt 85cm/giây, ở lớp nước gần đáy thay đổi từ 20 tới 30 cm/giây. Nhiệt độ nước biển trong năm thay đổi từ 25 tới 30 oC, độ mặn thay đổi từ 33 tới 35g/l. Chiều sâu nước biển trong vùng mỏ khoảng 50m, điều này cho phép sử dụng các giàn khoan cố định và tự nâng.

Theo số liệu địa chất công trình, phần lát cắt sát đáy phía trên (theo tính chất của đất đá) thuận lợi cho việc xây dựng các công trình mỏ. Lịch sử nghiên cứu Mỏ Bạch Hổ được phát hiện vào tháng 3 năm 1975. Giếng BH-1 do công ty Mobil khoan ở phần đỉnh cấu tạo (được xây dựng chủ yếu theo tài liệu thăm dò địa chấn 2D) là giếng khoan đầu tiên phát hiện dầu tại khu vực mỏ. Khi thử giếng khoan này đã thu được dòng dầu từ cát kết có tuổi Mioxen sớm.

Sau khi thành lập VSP, từ năm 1983 công tác tìm kiếm-thăm dò trên mỏ được thực hiện đều đặn và đã phát hiện ra dầu ở Oligoxen (năm 1985), tiếp đó là trong móng (năm 1986). Mục tiêu của giai đoạn đầu trong những năm 1983-1987 là thăm dò các tầng sản phẩm trong trầm tích thuộc Mioxen dưới, sau năm 1987 là đối tượng móng. Trước năm 1992 việc đặt giếng khoan thăm dò được thực hiện trên cơ sở tài liệu địa chấn 2D, còn ở những năm tiếp theo được thực hiện theo tài liệu địa chấn 3D. 3 Mỏ Bạch Hổ được bắt đầu khai thác từ tháng sáu năm 1986.

Cụ thể, các tầng sản phẩm thuộc các đối tượng lần lượt được đưa vào khai thác từ các năm 1986 (Mioxen dưới); 1987 (Oligoxen trên, Oligoxen dưới) và 1988 (móng trước Kainozoi). Tính tới tháng 1 năm 2006 sản lượng dầu của toàn mỏ là 146,164 triệu tấn, trong đó trên 133 triệu tấn từ móng, 8,5 triệu tấn từ Oligoxen dưới, 0,207 triệu tấn từ Oligoxen trên và 3,4 triệu tấn từ Mioxen dưới. Tới thời điểm hiện tại, công tác đánh giá trữ lượng dầu trong đá móng chủ yếu dựa trên phương pháp thể tích. Việc phân chia các vùng tính trữ lượng chủ yếu dựa trên các kết quả nghiên cứu thủy động lực.

Đá móng là một đối tượng địa chất rất phức tạp, cấu trúc địa chất và thành phần vật chất bất đồng nhất cao. Do đó, việc sử dụng phương pháp thể tích để đánh giá trữ lượng cũng như chỉ dựa trên kết quả nghiên cứu thủy động lực để xây dựng sơ đồ công nghệ sẽ bị nhiều hạn chế và có độ tin cậy không cao (nhiều giếng, vùng bị ngập nước sớm hơn dự tính). Đặc điểm địa tầng Lát cắt địa chất chung nhất của mỏ Bạch Hổ gồm móng kết tinh trước Kainozoi và trầm tích lục nguyên Kainozoi. Chiều sâu lớn nhất khoan vào móng là 2118m (giếng 435), còn đối với trầm tích thì chiều sâu đạt tới 4406m (giếng 9).2 là cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ.

Móng trước Kainozoi Gồm đá macma granitoid kết tinh cùng các đai mạch diabaz và bazan-andezit porfia hình thành trước Kainozoi, gọi chung là đá móng hoặc móng granitoid trước Kainozoi. Đá móng đặc trưng bởi tính bất đồng nhất thạch học cao. Theo số liệu mẫu lõi, trên Khối Trung Tâm phát triển chủ yếu là đá granit biotit và granit hai mica; Khối Bắc bao gồm đá granodiorit biotit sáng xám và adamelit cùng với monzonit thạch anh, monzodiorit thạch anh và diorit á kiềm; Khối Nam bao gồm đá granit (khu vực giếng 18), granodiorit (khu vực giếng 17), monzodiorit thạch anh (khu vực giếng 7). Đá móng bị biến đổi thứ sinh ở những mức độ khác nhau.

Trong số những khoáng vật thứ sinh, phát triển mạnh nhất là zeolit và canxit. 4 Kết quả xác định tuổi tuyệt đối đá móng theo phương pháp phóng xạ cho thấy các thành tạo granitoid mỏ Bạch Hổ có tuổi thay đổi trong khoảng 242±5 triệu năm (ứng với Triat muộn) tới 89 triệu năm (ứng với Creta muộn). Đá móng thuộc khối nâng Bạch Hổ có độ hang hốc, nứt nẻ cao và chứa dầu lớn. Trầm tích Kainozoi Gồm các hệ tầng Paleogen (thống Eoxen muộn – Oligoxen), Neogen (thống Mioxen, Plioxen) và Đệ tứ, chúng còn được chia nhỏ hơn thành 6 điệp với các tên gọi địa phương.

Trong Oligoxen có hai điệp đó là điệp Trà Cú – Eoxen muộn – Oligoxen dưới và điệp Trà Tân – Oligoxen trên. Trong Mioxen gồm 3 điệp: điệp Bạch Hổ – Mioxen dưới, điệp Côn Sơn – Mioxen giữa và điệp Đồng Nai – Mioxen trên. Trầm tích Plioxen và Đệ tứ được kết hợp chung vào điệp Biển Đông. Các thân dầu thương mại tập trung trong các tập cát kết của các điệp Trà Cú, Trà Tân và Bạch Hổ.

Điệp Cà Cối (Eoxen muộn – E32) Được phát hiện ở trũng Định An (Cl-1X) là các cuội, sạn, sỏi, bột và sét xen kẽ (200m). Trong phạm vi cấu tạo Bạch Hổ ở phần cao chúng không được phát hiện. Song ở các trũng sâu chúng có thể tồn tại như ở trũng Đông Bạch Hổ, trũng Tây Bạch Hổ, trũng Bắc Bạch Hổ. Bề dày có thể đạt tới 800m.

Điệp Trà Cú (Pg 31- tc) Điệp này được phân chia trong khoảng giữa các mặt phản xạ SH-BSM và SH- 11 (Eoxen muộn – Oligoxen sớm) tương ứng với tập F đặc trưng là các lớp cát kết hạt trung, nhỏ mầu sáng xám xen kẽ với các lớp bột kết mầu đỏ nâu cùng các vỉa sỏi kết, than, đá núi lửa bazơ mỏng. Trầm tích vắng mặt trên đỉnh Khối Trung Tâm và một phần ở Khối Bắc. Chiều dày trầm tích lớn nhất đạt 600m (quan sát được ở phần cánh cấu tạo). Điệp này được thành tạo trong môi trường lục địa với các tướng sông, hồ và đầm lầy.2 Cột địa tầng tổng hợp mỏ Bạch Hổ 6 Điệp Trà Tân (Pg32 - tt) Điệp này được giới hạn trong khoảng giữa các mặt phản xạ SH-11 và SH-7 (Oligoxen trên) gồm hai tầng.

Theo pháp danh mỏ, chúng được gọi tên từ trên xuống dưới là tầng thứ nhất và tầng thứ hai. Tầng thứ nhất nằm ở phía trên, giữa SH-10 và SH-7, chủ yếu là sét và sét kết với chiều dày từ 45 tới 1000m. Tầng thứ hai thuộc phần dưới của lát cắt nằm giữa SH-11 và SH-10 tương ứng với tập địa chấn E gồm cát và sét kết với chiều dày từ 0 tới 800m. Trên tập E là các trầm tích tập D và C, bao gồm các lớp sét dày tướng biển là phổ biến phủ lên tất cả các trầm tích cổ hơn.

Điệp được cấu tạo bởi xen kẽ giữa các lớp sét kết (chiếm từ 40 tới 70%), bột và cát kết. Đá có màu xám, xám sẫm và nâu đỏ. Xi măng cacbonat. Ở phần trên của lát cắt là sét kết màu đen có hàm lượng chất hữu cơ cao đạt từ 1 tới 10%.

Trong lát cắt của nhiều giếng khoan bắt gặp các vỉa đá bazơ có nguồn gốc núi lửa dày tới 20m và đôi khi bắt gặp các vỉa than mỏng. Điệp được thành tạo trong môi trường lục địa, tướng sông, hồ, đầm lầy và môi trường biển nông ven bờ. Điệp Bạch Hổ ( N11-bh) Điệp này được giới hạn giữa các mặt phản xạ SH-7 và SH-3 (Mioxen dưới) gồm các lớp cát kết, bột kết và sét kết, sét xen kẽ, màu xám, xám tối và loang lổ. Theo thành phần thạch học thì điệp này có thể được chia thành hai phụ điệp: Phụ điệp Bạch Hổ dưới, giới hạn bởi SH-5 và SH-7, có thành phần cát-sét kết và phụ điệp Bạch Hổ trên, giới hạn bởi SH-5 và SH-3, chủ yếu là sét.

Ở nóc điệp bắt gặp một tầng sét montmorilonit dày và sét kết có diện tích phát triển rộng, thường được dùng làm tầng tựa và được gọi với tên "sét rotalit". Chiều dày của tầng sét rotalit thay đổi từ 35m ở phía Nam Bạch Hổ tới 150m ở phần Đông Bắc mỏ. Phụ điệp Bạch Hổ dưới được thành tạo trong điều kiện vũng vịnh, đồng bằng châu thổ. Phụ điệp Bạch Hổ trên thuộc tướng biển nông, ven bờ.

Nhìn chung chiều dày của điệp thay đổi từ 770 tới 900m.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Ứng Dụng Quá Trình Hình Thành Tính Thấm Chứa Đá Móng Granitoid Mỏ Bạch Hổ là một nghiên cứu chuyên sâu về quá trình hình thành tính thấm chứa trong đá móng granitoid tại mỏ Bạch Hổ. Tài liệu này cung cấp cái nhìn chi tiết về các yếu tố địa chất ảnh hưởng đến khả năng thấm chứa của đá móng, từ đó hỗ trợ hiệu quả trong việc khai thác và quản lý tài nguyên dầu khí. Độc giả sẽ được hưởng lợi từ những phân tích khoa học và phương pháp luận được trình bày, giúp nâng cao hiểu biết về địa chất dầu khí và ứng dụng thực tiễn.

Nếu bạn quan tâm đến chủ đề này, hãy khám phá thêm Luận văn thạc sĩ địa chất dầu khí ứng dụng xây dựng mô hình địa chất 3d cho tầng đá móng nứt nẻ mỏ x bồn trũng cửu long, một tài liệu liên quan giúp mở rộng kiến thức về mô hình hóa địa chất 3D và ứng dụng trong lĩnh vực dầu khí.