Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu Phức hệ Định Quán: chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit- thạch anh đa sắc. Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phan axit vừa phải SiO, dao động 63-67%. Các thành tao của phức hệ xâm nhập nay có mức độ giập vỡ và biến đối cao. Hầu hết các khe nứt đều được lấp day bởi các khoáng vật thứ sinh: calcit, zeolit, thạch anh và clorit.
Trong đới biến đôi mạnh, biotit thường bị clorit hóa. Phức hệ Định Quán có tuôi Jura, tuôi tuyệt đối dao động từ 130 đến 155 triệu năm. Phức hệ Ca Na: là phức hệ magma phat triển và gặp pho biến nhất trên toàn bồn tring Cửu Long. Phức hệ đặc trưng là granit, thủy mica và biotit, thuộc loại natri-kali, du nhôm (Al=2.98%), Si (~69%) và ít Ca.
Đá có tuôi tuyệt đối khoảng 90-100 triệu năm, thuộc Jura muộn. Các khối granitoid phức hệ magma xâm nhập này thành tao đồng tạo núi và phân bố dọc theo hướng trục bổn trũng. Đá bị giập vỡ, nhưng mức độ biến đồi thứ sinh yếu hơn so với hai phức hệ trên. Trầm tích Kainozoi: Trầm tích Kainozoi là một bộ phận quan trọng của bồn trũng Cửu Long có cầu tạo phức tạp.
nam bat chỉnh hop trén mat da mong két tinh bao mon va phong hóa, voi độ day từ 2.5 đến 8km, càng đi về trung tâm bồn trũng, độ day càng tang, chỗ sâu nhất lớn hơn 8km. Địa tang được mô ta từ dưới lên, nghĩa là từ cô đến trẻ. Địa tầng khái quát trầm tích Kainozoi của bồn trũng Cửu Long: Hệ Paleogene Thống Eocene Hệ tang Cà Céi (E;ec) Tuổi: Eocene. Thành phân bao gom: cuội kết, sạn, soi két, cát hạt thô sáng màu xen lân với các tập sét màu xám dày.
Môi trường trầm tích: lục địa. Bè dày: khoảng 400m. Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu Các hóa thạch bào tử phan hoa được tìm thấy trong tầng trầm tích nay bao gồm: Soagnum, Pteridaceae, Cyaphidites, Foramea,. Đây là tầng trầm tích mới được phát hiện nên chưa có nhiều nghiên cứu.
Hệ Paleogene Thống Oligoxen Hệ tầng Trà Cú (E;'tc) Tuổi: Oligoxen sớm. Thành phan: chủ yếu là cát kết màu trang xám (hạt trung) lẫn cuội thạch anh hạt nhỏ, kẹp một số lớp sét kết mong, màu xám. trong đó có lẫn nhiều bột. Xi măng chủ yêu là cacbonat.
Môi trường trâm tích: sông, châu thô, ở gân vùng cao, có thê là hô ở phân trung tâm bồn tring. Bé dày tối đa tổng cộng của hệ tang Tra Cú lên đến 1500m. Hệ tang Tra Cu duoc chia lam hai phan: = Phần dưới: là một tập trầm tích lục nguyên gồm các lớp cát va sét xen kẽ nhau va có độ dày tương đối ngang nhau. " Phân trên: là một lớp tram tích hat min, bao gôm sét két và bột kêt màu lam xám, xám tôi và xám nâu thâm.
Tâng trâm tích này có chiêu dày cực đại đạt tới 120m nhưng ở một số khu vực chúng văng mặt do bị bào mòn. Các hóa thạch bào tử phan hoa đặc trưng cho hệ tầng nay bao gồm: Trudopoll, Ephedera, Cycas,. Đây là tập chứa dầu đáng được quan tâm do có các tập sét day xen kẽ các lớp cát. Hệ tang Trà Tân (Es”tt) Tuoi: Oligoxen muộn.
Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu Thanh phan chủ yếu bao gém: sét kết nâu xám, bột kết mau đen (có lẫn than) cùng một số lớp cát kết xen kẽ. Xi măng chủ yếu là kaolinit. Môi trường trầm tích: lòng sông, hồ, biển nông. Đặc biệt là môi trường tam giác châu (do sự có mặt phẫn hoa và Foraminifera).
Bé day trầm tích tổng cộng khoảng 1300m. Hệ tầng Trà Tân được chia thành ba đới: "- Đới dưới: có chiêu dày từ 0m dén 880m, bao gôm các lớp cát kêt mỏng mau xám sáng xen kẽ giữa các lớp sét dày. Có nơi đới tram tích này năm trực tiép lên tang đá móng trước Kainozoi. = Đới giữa: có chiều day từ 45m đến 600m chủ yếu là sét kết, có xen kẽ một vài tập cát kết mỏng không đáng kể.
Trong đới này có mặt các đá magma phun trào. = Đới trên: có chiều dày từ 0m đến 400m, là một đới bao gồm sét kết xen kẽ cát kết với tỷ lệ cát cao hơn so với hai đới dưới nó ở phần Nam của khu vực nghiên cứu, ở phan Bac đới này, sét chiêm ưu thê. Các hóa thạch bao tử phan hoa tìm thấy được trong hệ tang Tra Tân này bao gom: Rhizohone, Fussiena,. Đây là tang đá sinh dau rất tốt, đặc biệt là tập D.
Ngoài ra, hệ tang Tra Tan cũng là một tầng chắn địa phương khá tốt. Hệ Neogene Thống Mioxen Phụ thống Mioxen dưới Hệ tang Bạch Hỗ (N,'bh) Tuổi: Mioxen sớm. Thanh phan chủ yếu là: sét kết xen kẽ với cát kết và bột kết. Tầng sét Rotalia năm ở phan trên cùng của mặt cắt (dày khoảng 50 đến 100m).
Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu Môi trường trầm tích: đồng bang lòng sông, đồng băng ven bờ (phan dưới nhiều cát, phần trên nhiều sét). Môi trường chuyển dan từ tam giác châu sang lục địa, đầm hồ bị kiệt nước. Bé dày của hệ tầng vào khoảng 1000m, trong đó tập sét Rotalia có độ day vào khoảng 100 đến 200m. Hệ tầng này phân rõ hai phần: = Phan trên: đặc trưng bởi tang sét kết Rotalia có màu xám xanh, xám nâu, dẻo, dính, với thành phần chủ yếu là monmorilonit, giàu vi cô sinh, có chiều dày đạt tới 150 đến 200m và theo nhiều nhà nghiên cứu tầng sét này là tầng chăn tốt mang tính khu vực.
= Phần dưới: là trầm tích lục nguyên cát kết, bột kết, sét kết có màu xám, nâu hồng loang 16 xen kẽ nhau. Sét ở đây chủ yếu là kaolinit, thủy mica, monmorilonit. Phổ biến là cát kết arkoz có cỡ hạt từ thô đến mịn, gan kết yếu, xi măng sét là chủ yếu. Các hóa thạch tim thay đặc trưng cho tầng trầm tích này bao gồm: Rotalia, Orbuline Univerca, Rhizophora Animia, đặc biệt là Florsfhuetzia Semilobata,.
Phu thong Mioxen giữa Hệ tang Côn Sơn (N,’cs) Tuổi: Mioxen giữa. Thành phan: cát kết arkoz-lithic, xen kẽ bột kết, san, sỏi kết (50%), màu x4m vàng, xám sang. Phan dưới thường gặp các tap cát mau nâu, xám, hông loang lô, xen kẽ với các tập sét vôi. Thỉnh thoảng gặp các thấu kính than nâu mỏng.
Bè dày: biến đổi từ 250 đến 900m. Môi trường trầm tích: chuyển dan từ biển nông sang trầm tích sông, đầm lầy ven biên. Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu Hóa thạch bào tử phan hoa trong tầng trầm tích khá phong phú thuộc: Florsthuetzia, Foraminifera, Rhizophora, Levopoli,. Hệ tang nay gần như không có triển vọng về dầu khí do không có tang chan khu vực mặc dù độ rỗng khá lớn (15-20%).
Phu thong Mioxen trên Hệ tầng Đồng Nai (N/đn) Tuổi: Mioxen muộn. Thành phan gồm: cát kết thạch anh, hạt thô đến trung bình, sạn, sỏi có lẫn lớp sét mỏng, phong phú glauconit. Xi măng thường là cacbonat monmorilonit. Cac trầm tích sét vôi có màu xám, nâu, trăng và vàng.
Đôi khi gặp tầng sét và sét vôi mỏng. xen kẽ là các thấu kính than nâu. Bé day trầm tích: biến đôi 600 đến 900m. Môi trường trầm tích bao gồm: đầm lay, đồng bang ven bờ, biến nông.
Hệ tang này không có tiềm năng dau khí do không có tang chan. Hệ Neogene — Dé Tứ Thong Pliocene — PleiHAocene Hệ tầng Biển Đông (N;-Qbđ) Tuổi: Pliocene-PleiHAocene. Môi trường trầm tích: biển nông. Thành phan: chu yếu cát hạt mịn, sét kết, bột kết và chứa nhiều glauconit, xen ké là soi, sạn màu xám, xám vàng.
Hệ tang nay không có tiềm năng dau khí. Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu 1. Đặc điểm địa chất mỏ Hải Âu: 1. Tổng quan Lô X năm ở phía bắc của phụ bồn trũng bắc Cửu Long, cách Thành Phố Hỗ Chi Minh 180km về phía Đông Nam, trải rộng trên diện tích 4.
Các yếu tố cau trúc của phụ bồn trũng nói chung cũng như trong phạm vi lô X nói riêng chủ yếu phát triển theo hướng Đông Bắc — Tây Nam. Chiếm một nửa diện tích lô X là đơn nghiêng Tây Bắc. Ở đây trầm tích có bề dày nhỏ hơn 2 km. Chuyến từ đơn nghiêng Tây Bắc theo hướng Đông Bắc — Tây Nam là đơn nghiêng Trà Tân, đây là một dai cấu trúc nửa dia hào, nghiêng dốc về phía Đông Nam, là yếu tổ cấu trúc quan trọng nhất trong lô.
Nơi đây trầm tích có bề dày trong khoảng 2 — 4 km và phát triển các cau tạo lớn kế thừa từ các khối nhô móng granite trước Dé Tam. Phan còn lại của lô X thuộc địa hào sông Ba, nơi có bề dày trầm tích đạt tới 4 — 6 km. Trong phạm vi lô X, hệ thống đứt gay hướng Đông Bắc — Tây Nam và Đông Tây là phố biến nhất. Đặc biệt, những đứt gãy có phương Đông Bắc — Tây Nam là các đứt gãy giới hạn cấu tạo.
Các đứt gãy Đông Tây được phát triển sau các đứt gãy Đông Bắc — Tây Nam. Hầu hết các đứt gãy biến mất ở nóc Oligoxen. Cấu tạo Hải Âu thuộc lô X nam ở phan Bắc — Đông Bắc bồn trũng Cửu Long thuộc thêm lục địa Việt Nam,co diện tích bao phủ khoảng 84,3 km”. Nóc của móng cầu trúc Hải Âu xuất hiện ở độ sâu 2,483 m tính từ mực nước biển.
Cấu tạo thừa kế từ các khối móng nhô cao được hình thành trong thời ki tao rift (trước Oligoxen sớm) và sau đó bị bao phủ bởi trầm tích trong thời kì Oligoxen thành tạo các cau tạo lồi khép kín va bị giới han bởi các đứt gãy tách giãn trong giai đoạn đầu tạo bề (theo hướng Đông Bắc - TâyNam, từ Creta đến Oligoxen sớm). Các đứt gãy Đông — Tây được thành tao do sự dịch chuyển trượt bang phải của đứt gãy chính Đông Bắc — Tây Nam trong giai đoạn Oligoxen muộn đến Mioxen sớm. Dọc theo đứt gãy chính Đông Bac — Tây Nam, một số đứt gãy nhỏ kết thúc ở phần nóc của móng. Tuy nhiên cũng có nhiều đứt gãy có thể tìm thấy bên trong đá móng theo hướng Bắc Đông Bắc — Nam Tay Nam, Đông — Tây, Tây Nam — Đông Bắc.
-8- Chương 1: Đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu 107' owe 198" 00° £ tQ2' OG E cal + 03/97 |128 129 LAM SON 20C€ HAI AU FIELD oon + 130 02/97 = F 451 Ss s 03 oO > xt 132 04.2 04 1 Legend: Active Area er Pipeline Open Area Hình 1. Vị trí lô X bồn tring Cửu Long Nhà thầu HAJOC được thành lập ngày 26/10/1998 với ba năm đầu là giai đoạn thăm dò, sau đó được gia hạn thêm một năm đến 25/10/2002.