Tổng quan nghiên cứu

Khai thác dầu khí trong tầng đá móng granitoid nứt nẻ tại thềm lục địa Việt Nam là một trong những lĩnh vực mang tính đột phá nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức kỹ thuật phức tạp. Bể trầm tích Cửu Long với diện tích khoảng 36.000 km² đóng vai trò huyết mạch của ngành năng lượng quốc gia, đạt tổng sản lượng khai thác cộng dồn hơn 344,8 triệu m³ dầu quy đổi từ 11 mỏ đang hoạt động. Cấu tạo mỏ X thuộc Lô 15-2/01, nằm cách bờ biển Vũng Tàu khoảng 75 km về phía Đông với diện tích vỉa móng ước tính 64,7 km², là đối tượng giàu tiềm năng được phát hiện từ giếng khoan DH-1X vào năm 2007.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các mô hình một độ rỗng truyền thống không thể phản ánh chính xác bản chất bất đồng nhất và động thái dòng chảy phức tạp của môi trường rỗng kép trong đá móng nứt nẻ. Tình trạng này dẫn đến các sai lệch nghiêm trọng trong công tác dự báo sản lượng và gia tăng rủi ro khi định hướng các quỹ đạo khoan phát triển. Mục tiêu cụ thể của công trình là xây dựng mô hình phân bố độ rỗng vi nứt nẻ và nứt nẻ lớn cho khối B mỏ X, từ đó thiết lập mô hình mô phỏng khai thác động lực học hai độ rỗng có độ tin cậy cao. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi dữ liệu địa chấn và khai thác từ năm 2007 đến năm 2016 trên 8 giếng khoan thăm dò và khai thác. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc khi cung cấp công cụ dự báo chuẩn xác, giúp tối ưu hóa hệ số thu hồi dầu khí, kiểm soát lưu lượng thử vỉa lên tới 21.660 thùng dầu/ngày đêm và giảm thiểu tối đa tổn thất tài chính trong công tác khoan thăm dò mở rộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết vỉa chứa hai độ rỗng của Warren và Root công bố năm 1962, kết hợp với các bước phát triển mô hình không gian lưới kép của Kazemi. Khung lý thuyết này chia sẻ vỉa nứt nẻ tự nhiên thành hai môi trường thủy lực tương tác liên tục: ma trận khối đá đóng vai trò lưu trữ dung tích chất lưu và hệ thống khe nứt đóng vai trò dẫn dòng trực tiếp vào giếng khoan.

Bên cạnh lý thuyết dòng chảy hai độ rỗng, công trình ứng dụng lý thuyết học máy với mạng nơ-ron nhân tạo và phương pháp địa thống kê Co-kriging đa biến. Mô hình mạng nứt nẻ rời rạc được tích hợp nhằm số hóa hình học không gian của các đứt gãy. Năm khái niệm then chốt chi phối toàn bộ cấu trúc nghiên cứu bao gồm: độ rỗng thứ sinh, hệ thống vi khe nứt, hệ thống khe nứt lớn, độ thấm tuyệt đối và hệ số truyền dẫn chất lưu qua ô lưới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của luận văn được tổng hợp từ hơn 58.000 km địa chấn 2D, hơn 15.000 km địa chấn 3D toàn bể Cửu Long và tập dữ liệu địa vật lý giếng khoan chuyên sâu từ 8 giếng khoan thăm dò tại mỏ X như DH-1X, DH-2X, DH-3X, DH-4X, DH-5X, VD-1X và VD-2X. Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc chọn mẫu toàn bộ các vỉa móng mở qua các giếng khoan, kết hợp phân tích lát mỏng thạch học và tài liệu đo quét thành giếng độ phân giải cao FMI.

Lý do lựa chọn phương pháp tích hợp mạng nơ-ron nhân tạo kết hợp Co-kriging là nhằm khắc phục triệt để khoảng cách về độ phân giải giữa dữ liệu địa chấn vĩ mô và dữ liệu carota giếng khoan vi mô, loại bỏ các sai số chủ quan của phương pháp nội suy hình học Halo truyền thống. Quy trình phân tích dữ liệu được triển khai theo tiến trình logic: xác định độ rỗng tổng và độ rỗng thứ sinh bằng phương pháp thể tích, huấn luyện mạng nơ-ron với các tổ hợp thuộc tính địa chấn tối ưu trên phần mềm Petrel, sau đó chuyển giao sang phần mềm Eclipse để thiết lập mô hình thủy động học và khớp lịch sử khai thác trong giai đoạn 2007-2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô hình hóa và phân tích số liệu địa vật lý giếng khoan kết hợp cấu trúc 3D đã đưa ra ba phát hiện mang tính then chốt về đặc trưng phân bố rỗng - thấm tại khối B mỏ X:

Thứ nhất, nghiên cứu đã định lượng hóa được sự phân chia tỷ phần thể tích độ rỗng trong tầng móng granitoid. Hệ thống vi khe nứt chiếm tỷ phần áp đảo khoảng 76% tổng thể tích rỗng nhưng có độ thấm thực tế rất thấp, giữ chức năng chính là bể chứa chất lưu nuôi vỉa. Ngược lại, hệ thống khe nứt lớn chỉ chiếm khoảng 24% thể tích rỗng nhưng sở hữu độ thấm vượt trội, tạo thành mạng lưới dẫn truyền dầu khí chủ đạo chảy vào các đáy giếng khai thác.

Thứ hai, kết quả phân tích cấu trúc đứt gãy xác nhận hệ thống đứt gãy phương á vĩ tuyến (Đông - Tây) là đới chứa và dẫn dòng hydrocarbon tốt nhất trong toàn bộ 6 hệ thống đứt gãy hiện diện tại mỏ X. Minh chứng thực tế từ kết quả thử vỉa DST số 1 và DST số 2 tại giếng khoan DH-1X cho thấy lưu lượng cực đại đạt tới 21.660 thùng dầu/ngày đêm. Trong khi đó, các giếng nằm ở đới đứt gãy Tây Bắc - Đông Nam như giếng DH-3X chỉ đạt lưu lượng tự nhiên hạn chế từ 200 đến 400 thùng dầu/ngày đêm, cho thấy sự chênh lệch năng suất lên tới hơn 50 lần giữa các phương cấu trúc.

Thứ ba, mô hình mạng nơ-ron nhân tạo kết hợp Co-kriging cho thấy mức độ tương thích vượt bậc khi đối sánh với dữ liệu thực tế tại giếng khoan thẩm lượng DH-5X với lưu lượng dòng dầu đạt 1.350 thùng dầu/ngày đêm, chứng minh độ chính xác vượt trội so với các phương pháp mô hình hóa đẳng hướng trước đây.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên sự vượt trội của hệ thống đứt gãy phương Đông - Tây bắt nguồn từ lịch sử biến dạng kiến tạo trong các giai đoạn nén ép D3.2 và tách giãn D3. Các pha tái hoạt động kiến tạo xảy ra đồng thời với thời điểm di chuyển và bẫy hydrocarbon, giữ cho các khe nứt mở rộng mà không bị lấp nhét hoàn toàn bởi khoáng vật thứ sinh như canxit hay zeolite.

Dữ liệu mô hình hóa được trực quan hóa thông qua các biểu đồ phân tán tương quan chéo giữa độ rỗng dự báo từ mạng nơ-ron và độ rỗng đo carota thực tế tại các giếng DH-1X và DH-5X, thể hiện hệ số tương quan tuyến tính tiệm cận mức lý tưởng. Trên bảng đối sánh áp suất vỉa và biểu đồ đường cong suy giảm sản lượng động lực học, mô hình hai độ rỗng trên phần mềm Eclipse đã tái lập xuất sắc lịch sử khai thác thực tế của hai giếng DH-1P và DH-5P. So với các nghiên cứu kinh điển tại mỏ Bạch Hổ hay mỏ Cá Ngừ Vàng, mô hình này đã khắc phục hoàn toàn hiện tượng tụt áp giả tạo trong mô phỏng một độ rỗng, khẳng định mô hình độ rỗng kép là tiêu chuẩn bắt buộc đối với thân dầu móng granitoid nứt nẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản trị mỏ và duy trì sản lượng khai thác ổn định tại Lô 15-2/01, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể:

Thứ nhất, ban điều hành dự án cần áp dụng bắt buộc mô hình vỉa hai độ rỗng tích hợp tỷ phần 76% vi nứt nẻ và 24% khe nứt lớn vào quy trình đánh giá trữ lượng và lập kế hoạch phát triển mỏ tổng thể. Mục tiêu là kiểm soát độ sai lệch dự báo sản lượng dưới mức 8% trong chu kỳ khai thác 5 năm tiếp theo từ năm 2017 đến năm 2022.

Thứ hai, bộ phận địa chất và công nghệ khoan cần tối ưu hóa quỹ đạo của các giếng khoan phát triển mới theo hướng cắt vuông góc với hệ thống đứt gãy phương á vĩ tuyến (Đông - Tây). Giải pháp này giúp tối đa hóa số lượng khe nứt mở được tiếp cận, nâng cao chỉ số năng suất giếng thêm tối thiểu 25% trong vòng 12 tháng sau khi đưa vào hoạt động.

Thứ ba, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí cùng nhà điều hành liên doanh cần xây dựng ngay phương án bơm ép duy trì áp suất vỉa thích hợp. Việc duy trì áp lực vỉa sẽ kích thích dòng chảy đối lưu từ hệ vi khe nứt sang hệ khe nứt lớn, giảm thiểu tốc độ suy giảm áp suất vỉa tự nhiên xuống dưới 5% mỗi năm.

Thứ tư, nhóm chuyên gia mô hình hóa động lực học cần thiết lập quy trình hiệu chỉnh và khớp lịch sử định kỳ 6 tháng một lần dựa trên các dữ liệu đo thử vỉa, áp suất đáy giếng và lưu lượng khai thác thực tế của các giếng DH-1P và DH-5P nhằm cập nhật liên tục ma trận truyền dẫn chất lưu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn sau:

Một là, các kỹ sư công nghệ mỏ và chuyên viên mô phỏng vỉa chứa. Tài liệu cung cấp hướng dẫn chi tiết về phương pháp thiết lập mạng ô lưới kép trên phần mềm Petrel và Eclipse, giúp giải quyết bài toán dòng chảy phi tuyến trong môi trường nứt nẻ phức tạp.

Hai là, các nhà địa chất dầu khí và địa vật lý giếng khoan. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về kỹ thuật khai thác thuộc tính địa chấn 3D kết hợp thuật toán học máy mạng nơ-ron nhân tạo để dự báo sự phân bố của các đới nứt nẻ ngầm.

Ba là, các nhà quản lý dự án và lãnh đạo doanh nghiệp dầu khí. Luận văn cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để thẩm định kế hoạch khai thác mỏ, giảm thiểu rủi ro khi phê duyệt ngân sách đầu tư cho các chiến dịch khoan thẩm lượng có chi phí hàng chục triệu USD.

Bốn là, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật Dầu khí. Công trình đóng vai trò là một case-study thực tế hoàn chỉnh, kết nối liền mạch giữa lý thuyết thạch học, địa thống kê nâng cao và kỹ thuật mô phỏng khai thác dầu khí hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao mô hình một độ rỗng truyền thống lại thất bại trong việc mô phỏng khai thác tại mỏ X?

Mô hình một độ rỗng coi vỉa chứa là một môi trường đồng nhất và lấy giá trị trung bình thuộc tính trên các ô lưới. Trong thực tế móng mỏ X, 76% dầu nằm trong vi khe nứt nhưng dòng chảy lại phụ thuộc vào 24% khe nứt lớn, khiến mô hình đơn độ rỗng dự báo sai lệch hoàn toàn áp suất đáy giếng.

Mạng nơ-ron nhân tạo ANN đóng vai trò gì trong việc xác định phân bố độ rỗng?

Thuật toán mạng nơ-ron nhân tạo đóng vai trò liên kết phi tuyến tính giữa dữ liệu địa vật lý giếng khoan cục bộ và các thuộc tính địa chấn 3D diện rộng. Phương pháp này tự động gán trọng số tối ưu cho từng thuộc tính, loại bỏ sự chủ quan và nâng cao độ chính xác dự báo độ rỗng vỉa.

Đặc trưng địa chất nào quyết định lưu lượng dầu cực đại tại giếng DH-1X?

Giếng DH-1X đạt lưu lượng thử vỉa lên tới 21.660 thùng dầu/ngày đêm nhờ khoan trúng đới đứt gãy phương á vĩ tuyến Đông - Tây. Đây là hệ thống đứt gãy chịu ứng suất tách giãn và nén ép thuận lợi trong các pha kiến tạo D3, tạo nên mạng lưới khe nứt mở có tính liên thông thủy lực tuyệt hảo.

Sự khác biệt căn bản giữa hai hệ thống vi khe nứt và khe nứt lớn là gì?

Hệ thống vi khe nứt sở hữu thể tích rỗng lớn nhưng độ thấm cực nhỏ, đóng vai trò lưu giữ phần lớn trữ lượng dầu tại chỗ. Ngược lại, hệ thống khe nứt lớn có độ rỗng nhỏ nhưng độ thấm cực cao, hoạt động như những kênh dẫn siêu tốc đưa dầu từ thân móng vào lòng giếng.

Kết quả khớp lịch sử khai thác trên mô hình Eclipse đem lại giá trị gì?

Quá trình khớp lịch sử khai thác trên hai giếng thực tế DH-1P và DH-5P đạt độ tương thích cao với dữ liệu đo thực tế từ năm 2007 đến 2016. Kết quả này chứng minh mô hình động lực học đủ tin cậy để làm căn cứ dự báo sản lượng và lập kế hoạch khai thác dài hạn cho mỏ X.

Kết luận

  • Luận văn đã giải quyết triệt để bài toán mô phỏng dòng chảy trong môi trường bất đồng nhất cao bằng cách ứng dụng thành công mô hình hai độ rỗng cho tầng đá móng granitoid mỏ X.
  • Thiết lập quy trình công nghệ kết hợp mạng nơ-ron nhân tạo, địa thống kê Co-kriging và mô hình mạng nứt nẻ rời rạc DFN để phân chia chính xác 76% thể tích vi nứt nẻ và 24% thể tích khe nứt lớn.
  • Chứng minh hệ thống đứt gãy phương á vĩ tuyến Đông - Tây là cấu trúc dẫn dòng chủ lực, lý giải thành công lưu lượng thử vỉa kỷ lục 21.660 thùng dầu/ngày đêm tại giếng DH-1X.
  • Hoàn thiện việc liên kết mô hình địa chất tĩnh từ Petrel sang mô hình mô phỏng động Eclipse, đạt độ khớp lịch sử khai thác xuất sắc trên các giếng DH-1P và DH-5P.
  • Đóng góp một phương pháp luận chuẩn xác cho ngành dầu khí Việt Nam trong công tác quản trị và khai thác tối ưu các thân dầu phi truyền thống trong đá móng nứt nẻ.

Về kế hoạch triển khai tiếp theo trong vòng 6 đến 12 tháng tới, nhóm nghiên cứu khuyến nghị tích hợp thêm dữ liệu giám sát áp suất đáy giếng theo thời gian thực và áp dụng các thuật toán tối ưu hóa tự động để tinh chỉnh mô hình động lực học. Các đơn vị vận hành mỏ và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ quy trình mô hình hóa này để ứng dụng trực tiếp cho các cấu tạo dầu khí tương đồng trên thềm lục địa.