CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MO TẾ GIÁC TRANG 1. Địa chất khu vực lô 16.1 Bê Cửu Long được thành tạo trước kỉ ĐệTam, bê nằm ở phía Đông Nam của Việt Nam, kéo d ai từ 9°B đến 11°B, với diện tích xấp xi 50.1 năm ở hướng Đông Bắc của bể Cửu Long. Tại góc Tây Bắc của lô 16.1 cách phía Nam Vũng Tàu gần 70km, có diện tích khoảng gần 1974 km? với giá trị độ sâu nước biển khoảng từ 20 đến 50m (hình 1.119E 31O,405726N 1°0 ”N j 7 T ’ T 7 Ũ T E+ “ L§JOC01/97| 01⁄9) Tạ 121 - — 10°3 ”N 2 PHU QUI ISLAND | i y TLIOC 10“ ”N /1ô 1/02/03 9*30 "N E / wt 8°0 "N L 106°3000'E 107°00'00"E 107°30'00"E 108°00'00"E 108°30'00°E ˆ pus So 109°0000'E i —Tg 109°30'00"E 1958N Hình 1.1: Vị trí địa ly m6 TGT (7ê Gide Trắng RAR 2014) 2. Lịch sử thăm dò và đánh giá Hoàng Long JOC được thành lập với vai trò điều hành lô 16-1, bổn tring Cửu Long ngoài khơi miễn Nam Việt Nam.
Cổ đông thành lập Hoàng Long JOC với cé phan tương ứng bao gdm: e Téng công ty thăm dò và khai thác dâu khí (PVEP): 41% e SOCO Việt Nam (SOCO): 28.5% e PTT Exploration and Production (PTTEP): 28.5% e OPECO Vietnam Ltd: 2.0% Hợp đồng dâu khí được kí kết vào ngày 8/11/1999 và có hiệu lực vào ngày 8/12/1999, Giai đoạn tìm kiếm thăm dò bắt dau từ ngày 8/12/1999 đến 7/12/2007. Trong pha 3 của giai đoạn tìm kiếm thăm dò, giếng TGT-1X được khoan đầu tiên vào lô 16.1 với kết quả thử via DST ở phan Mioxen dưới Intra Bạch Hồ 5.7 thùng một ngày và 4.11 MMSCFPD tai choke size 80/64”? với tỷ trọng dau là 37. Tiếp nôi thành công của giếng TGT-IX trong giai đoạn thăm dò, vào thang 8 năm 2005 là 6 giếng thâm lượng: TGT-2X, TGT-3X, TGT-4X, TGT-5X, TGT-6X, TGT-7X khoan vào các khối (HI, H2, H4, H3, H3N) trong chiến dịch khoan thứ nhất tại giàn HI-WHP và chiến dịch khoan thứ 2 tại giàn H4-WHP đều cho kết quả tốt. Dựa trên kết quả của các giéng khoan (well log corrected tops, formation pressures/ excess pressure) mô hình tang ILBH 5.2, C được cập nhật cho các khối H1, H2, H4, H3, H3N (hình 1.
Trong chiến dịch khoan thứ 3 được thực hiện từ tháng 7 năm 2012 với 4 giếng được khoan tại giàn HI-WHP. Trong đó có 2 giếng đan dày được khoan vào khối H1. Chiến dịch khoan năm 2013 được thực hiện với 4 giếng (TGT-9X, TGT-10X, TGT-11X và TGT-HI-19]). Chiến dịch khoan năm 2014 với các giếng chắc chắn bao gồm: TGT-H4-20P, TGT-H4- 21P, TGT-H4-26P, TGT-H5-22P, TGT-H5-23P, TGT-H5-24P, TGT-H5-25P, TGT-12X).
=—_——_—“— “nue ee ewe ewe eS SS ee eee am BLOCK 16-1 /Ý 1 06 0 0OœtL / f®ZntL 0asenL 0nweotL 0O7Z£60L Hình 1.2: Vị trí các khối trong mồ TGT (7é Gide Trắng RAR 2014) 3.1 Đá móng — Đệ Tam Các Gk trong phạm vi mỏ TGT (TGT-2X, 2X, 3X, 4X, 5X) đều chưa chạm đến lớp đá móng. Nhìn chung thành phân trầm tích trong hệ tầng khu vực TGT phù hợp và nằm trong khung hệ tang chung của bén trũng Cửu Long với tang sét khu vực Rotalia BLI bao phủ rộng khắp tạo cơ sở chăn tốt cho các tích tụ dầu khí bên dưới.2 Hệ tang Lower Trà Tân (tang E/F — Oligoxen sớm) Hệ tầng Trà Tân không bắt gặp tại TGT 3.3 Hệ tang Trà Tân giữa (tang D — Oligoxen muộn) Hệ tang Tra Tan giữa duoc mô tả bởi đặc điểm lớp đá phiên Sét, sét kết màu nâu đen, nâu tối, có chứa vôi, rất giàu nguồn vật chất hữu cơ. Trong đó có xen lẫn với các lớp cát kết và bột kết mỏng có thé chia ra thành ba phan. a) Upper D— Oligoxen muộn Upper D gồm các lớp cát dày xen lẫn với các lớp đá phiến sét, sét kết màu nâu đen, nâu tối, có chứa vôi và giàu nguồn hữu cơ.Môi trường trầm tích dam hồ nước mặn và đầm hỗ nước lợ.
Cát kết: màu xám đến xám hong, độ hat từ min đến trung bình, độ cứng từ trung bình đến tốt. Thanh phan thạch học bao gồm các khoáng vật thạch anh nhỏ, nền xi măng bao gồm kaolinit màu xám, dolomit và cát. Manh đá màu xanh xám, nâu đỏ góc cạnh, hau hết tái tram tích gân nguôn rat thô, mài tron va chọn lọc kém.Ngoài ra có sự góp mặt của các khoáng vật khác như chlorit màu xám xanh, biotit, pyrit. Bột kết: màu nâu vàng, xám nâu, độ cứng từ trung bình đến tốt, xi măng găn kết tốt bao gôm dolomit, thành phan xi măng giàu silicat, mica, biotit màu đen, chlorite màu xanh, đốm pyrite và kết tinh pyrite.
Sét kết/đá phiến sét: mau nâu - nâu đen giàu nguồn hữu co, độ cứng trung bình. b) D2— Oligoxen muộn Phan D2 được bắt gap chỉ tại GK TGT-1X lô 16. Thanh phan thach hoc gom có đá phiến sét/sét màu nâu tôi, nâu đen, giàu nguồn hữu cơ xen lẫn các lớp bột kết mong (phan trên), cát kết xen kẽ với đá phiến sét/sét màu nâu tối nâu đen có nguồn hữu cơ và lớp bột kết mỏng (phan giữa), sét kết /đá phiến sét xen kẽ với lớp cát kết mỏng và bột kết mỏng (phần dưới). Môi trường trầm tích đầm hồ nước mặn.
Cát kết: màu xám sáng, xám hông nhạt, xám nâu sáng, cát kết dạng arkzo (arkozic), cát kết có chứa sét, khoảng không giữa hạt được lấp nhét bởi bột kết, rắn chắc, độ cứng từ trung bình đến tốt, nền xi măng có những thớ lớp chứa vôi mỏng, khoáng vật fenpat màu xám sáng có đốm mica, chlorite màu xanh, biotit đen, có kết tinh pyrite, có những thé lớp chứa cancit và dolomit. Bột kết: màu vàng nâu nhạt, xám nâu, độ cứng từ trung bình đến ran chắc, xi măng có chứa sét, dolomit, giàu silic, dang hat, có chứa đốm mica, khoáng vật biotit den, chlorite xanh, khoáng vat pyrite và có kết tinh pyrite. Đá phiến sét/sét kết: màu nâu tối nâu đen, rất giàu nguồn hữu co, độ cứng từ cứng đến rất cứng, có tính chất răn lại, dạng tâm, có khả năng kéo dài, tăng khả năng tách ra theo chiều sâu, có những thớ lớp chứa vôi mỏng, có đốm trắng nhạt-vàng cam, thớ lớp mỏng chứa cancit. c) DI —- Oligoxen muộn Phần DI cũng được bắt gặp chỉ giếng khoan TGT-1X.
Thành phân thạch học gồm có đá phiên sét/sét màu nâu tối, nâu đen, với lớp bột kết mỏng và cát kết xám sáng, xám nhạt, xám nâu sáng (phân trên), cát kết xen kẽ với đá phiến sét, sét kết màu nâu tối, giàu nguồn hữu cơ và lớp bột kết mỏng (phân giữa), đá phiến sét, sét kết màu nâu tôi, nâu den xen kẽ với cát kết mỏng và bột kết (phân dưới). Môi trường tích tụ đầm hồ nước lợ và phù sa bồi tích lòng sông. Cát kết: Màu xám sáng, xám hồng nhạt, xám nâu sáng, một vài nơi có cát kết arkozic, độ cứng trung bình, không gắn kết, hạt thô, có chứa sét màu trắng nhạt, sét kaolinit màu trắng, xám nhạt, có chứa vôi và dolomit ở một vai noi, có các dém mica, biotit den, muscovite xám nhạt, chlorite màu xanh, kết tinh pyrite, có những thé lớp chứa cancit và dolomit mỏng. Đá phiên sét/sét kết: Nâu tôi, nâu đen, đen xám, giàu nguôn hữu cơ, dạng khối, có khả năng kéo dài, có thé tách được, có những thé lớp chứa vôi, có đốm trang nhạt.
Bột kết: Nâu vàng nhạt, xám nâu, thỉnh thoảng màu đen nâu tối, đen xám, có xi măng, một số phan có chứa vôi, dolomit, kết hợp với các thớ lớp chứa cát mỏng, có đốm mica, khoáng vật biotit, khoáng vat chlorite xanh, có dém kết tinh pyrite khoáng vat pyrite.4 Hệ tang Trà Tân trên (tang C — Oligoxen muộn) Nóc tập C hệ tang Tra Tân trên là bề mặt bat chỉnh hợp Oligoxen được thấy rõ trong khu vực mỏ TGT đối với hau hết các GK (TGT-1X, 2X, 3X, 5X). Được mô tả là các lớp cát kết xen lẫn các lớp sét bột kết màu xám xanh đến xám nâu, giàu vật chất hữu cơ. Môi trường tram tích đầm hô ven biển. Cát kết: màu xám sáng, thỉnh thoảng màu xám nâu sáng, vàng nhạt, độ cứng trung bình đến tốt, có chứa các thành phan xi măng như: can xít, dolomit tăng dan theo chiều sâu.
Độ hạt từ rất mịn đến trung bình, rat hiém khi có thành phân hạt thô, á tròn đến tròn, độ cau từ trung bình đến tốt, độ chọn lọc từ trung bình đến tốt. Có chứa các thành phân khoáng như thạch anh, chlorit, mica (mảnh biotit nhỏ) và dém kết tinh pyrit. Sét kết: Màu xám, xám xanh hàm lượng vật chất hữu cơ tăng dan theo chiều sâu, độ cứng trung bình, dạng khối, dạng tâm có nhiều thớ lớp nâu đỏ mỏng, thỉnh thoảng có những thớ lớp chứa vôi mỏng. Bột kết: màu xám xanh đến xám nâu, độ cứng trung bình, có chứa mica, chlorit màu xanh lá, dém vết pyrite và kết tinh pyrit.5 Hệ tang Bạch Hỗ BI (Mioxen sớm — BI) Tại khu vực mỏTŒT, có thê chia hệ tang Bạch Hồ thành các phụ hệ tầng sau: a) Phu hệ Bach Hỗ trên — Mioxen sớm (tang BI.2) Năm phan trên cùng của hệ tang Bach Hồ trên là các lớp sét xám — xám xanh rất dày, được biết đến như tang chắn khu vực của bổn triing Cửu Long được gọi là tang chắn sét Bạch Hồ.
Phan dưới cấu hệ tang Bach Hỗ trên là các cát xen lẫn bột sét Cát kết: Màu xám sáng đến hồng, độ hạt từ rất mịn đến min, độ mài tròn từ góc cạnh đến tròn cạnh, độ cau từ trung bình đến tốt, độ chọn lọc rất tốt, độ cứng từ trung bình đến rất cứng, nên có chứa sét màu xanh nhạt: kaolinit, dolomit, calcadone, nhiều màu sắc khác nhau: đỏ, cam, xanh, xám, đen. Bột kết: màu xám xanh đến xám oliu, rất hiếm khi dạng xám sáng, độ cứng từ trung bình đến tốt, độ chọn lọc từ trung bình đến tốt, có chứa những mảnh cát kết rất mịn và rất ít các kết hạch pyrit, mica, chlorit xanh. Sét kết: Màu xám — xám xanh đến nâu đỏ, độ cứng từ trung bình đến tốt. Đá vôi: Màu trăng, xanh sáng, độ cứng từ trung bình đến tốt.
b) Phụ hệ Bạch Hỗ dưới - Mioxen sớm (BI.1) Dinh của phụ hệ tang này bao gồm các lớp sét nâu đỏ rất dày, phan dưới có thé chia ra 03 phân vị nhỏ bao gồm: Upper Bạch Hồ dưới, Bạch H65.2-Mioxen sớm (Intra Lower Bach Ho) Bao gồm các lớp cát kết xen lẫn các lớp bột, sét kết màu xám, môi trường tram tích đầm hồ ven biển. Cát kết: màu xám xanh đến xám sáng, độ hạt từ rat mịn đến trung bình, ít gặp hơn là cát kết hạt thô, á góc cạnh đến tròn cạnh. a câu đến cầu, độ chọn lọc từ trung bình đến tốt, gan kết trung bình.