CHƯƠNG 1: ĐẶC DIEM DIA CHAT KHU VỰC NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH DIA CHAT 3D KHU VUC DONG BAC LÔ 103 HVCH: Nguyén Hién Phap 2 HDKH: TS. Nguyễn Thế Hùng Luận văn Thạc sĩ CHUONG 1. ĐẶC DIEM DIA CHAT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu bé trầm tích Sông Hồng Bề tram tích Sông Hồng nằm trong khoảng 105°30' - 110°30' kinh độ Đông, 14°30' - 2100' vĩ độ Bắc.
Bé có dạng kéo dài phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (TB-DN) với khoảng 650 km chiều dai, 150 km chiều rộng với độ day tram tích tại tring sâu nhất có thé lên đến 17 km (Ren JY và nnk. Ranh giới bể được xác định về phía Đông Bắc tiếp giáp với phụ bê Bạch Long Vi và bé Hoàng Sa nam ở phía Nam. Phần trên đất liền thuộc bê Sông Hồng được gọi là Miền Võng Hà Nội (Hình 1. Dao Hai Nam La Hình 1.
Vị trí và phân vùng cấu trúc dia chất bé Sông Hồng (1) Vùng phíaTây Bắc; (2) Vùng Trung Tâm; (3) Vùng Phía Nam HVCH: Nguyễn Hiến Pháp 3 HDKH: TS. Nguyễn Thế Hùng Luận văn Thạc sĩ Tổng diện tích bé khoảng 220.000 km”, phía Việt Nam chiếm khoảng 126. Bé Sông Hồng có cấu trúc địa chất phức tạp thay đổi từ đất liền ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và Nam, bao gồm các vùng địa chất khác nhau. Vùng phía Tây Bắc bao gồm miền võng Hà Nội và một số lô phía Tây Bắc của vịnh Bac Bộ như 103-107, 102-106.
Đặc điểm cấu trúc nổi bật của vùng này là cấu trúc uốn nếp phức tạp kèm nghịch đảo kiến tạo Miocen. Vùng Trung tâm từ lô 108-110 đến lô 114-115. Vùng này cũng có cấu trúc phức tạp. Các cấu tạo có cấu trúc khép kín kế thừa trên móng ở phía Tây, đến các cau trúc sét diapir nồi bật ở giữa trung tâm.
Vùng phía Nam từ lô 115 đến 16 121. Vùng này có cấu trúc khác han so với hai vùng trên vì có móng nhô cao trên địa lũy Tri Tôn tạo thềm carbonat và ám tiêu san hô, bên cạnh phía Tây là địa hào Quảng Ngãi và phía Đông là các bán địa hào Lý Sơn có tuổi Oligocen. Về cau trúc bé Sông Hồng được giới hạn bởi 02 hệ thống đứt gãy chính phát triển theo hướng Tây Bắc-Đông Nam và hướng Đông Bắc-Tây Nam (Hình 1. Các đứt gãy hướng Tây Bắc-Đông Nam có nguồn gốc liên quan đến hoạt động giãn tách mở rộng Biển Đông, là đứt gay trượt băng rất đặc trưng trong khu vực đới đứt gãy Sông Hong [11].
Hai đứt gãy chính khống chế hình dạng cũng như khối lượng trầm tích đồ vào bê là đứt gãy Sông Chảy và đứt gãy Sông Lô. Hướng chuyên động trượt bằng và kiểu đứt gãy này đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và hình thành của bé Sông Hồng là chủ đề của rất nhiều dé tài nghiên cứu. Ru (1988) cho rang bề Sông Hong có hướng phát triển TB dọc theo mặt trượt Riedel (mặt trượt thứ sinh) dưới tác động của trường ứng suất tách giãn hướng TTB-ĐĐN. Nghiên cứu của Zhang va Hao (1979), Gong va Li (1997) hay Li và nnk., (1998) lại cho rang bê Sông Hồng là bé kéo toac do hoạt động trượt bằng phải tạo nên các đứt gãy phát triển theo hướng TN va BN.
Tuy nhiên, Guo và nnk., (2001) lại coi bể được thành tạo theo cơ chế trượt bằng trái theo mô hình bể kéo toạc với hệ đứt gay sụt bậc không cân xứng liên quan đến hoạt động tách giãn hướng DN va quay theo chiều kim đồng hồ của khối Đông Duong (Indochina) dọc theo hệ đứt gay Sông Hồng. HVCH: Nguyễn Hiến Pháp 4 HDKH: TS. Nguyễn Thế Hùng Luận văn Thạc sĩ Các nghiên cứu ở phan trên bờ của bể Sông Hồng cho thấy hệ đứt gãy Sông Hong là đứt gãy trượt bang trái và sụt bậc trong giai đoạn từ 35 đến 20 triệu năm trước (Ma) (Leloup và nnk., 1995; Zhang & Zhong, 1996), sau đó chuyên sang chuyên động trượt bằng phải vào khoảng 5 Ma. 107” 105” Chủ giải I-VI Miễn vỏ lục địa 1) Khối lục địa Việt Trung Hy Cattery: Ly Yangtee, 1, Kangdfiam, I, Tây Bức VN lục dia Dong Dương ¡Đông Bike VN: My Haina Hy Sima Hạ Trường Sow Is Keesee, lay Nam fh: Hy Khoees; Họ Đà Lạt Ý Khối lục địa TN Borneo DY) khối lọc địa Tay Sumatra VII Khối lục địa Trường Sa - Luconia Ñ vien vỏ lọc địa bị thoái hóa trong KZ L Mico 6 433 duomg wre HBB 064 knae Patcotemys xéc dink ‘Doi khâu Changning - Menglian® } Đới khâu Inthanon @ Nhánh 1: (nhánh chính) Doi khâu Klaeng (2) J“ khâu giữa II và HI 1s? Đới khâu Bentong-Raub@ Đi kháu Cao Bằng Dian - Qiong@)Ì Nhánh 2 Đôi khâu Ailaoshan - Sông Da Œ) fas khâu giữa Ï và I [D5 oi khâu PateoTethys giả định @) Ez} Hệ thống cung đảo núi lita Sukhothai C, - P -'T, (2) S1 Terane Lingcang E1 Terrane Sukhothai DP Terane Chanthaburi (Cardamon) - Dong Malaya "OB 06% insu bóc sau cung xác dink Đới khâu Jinghong Đới khâu Nan Uttaradit Đi khâu Sa Kaco Đi khâu bón sau cưng giả định (?) Doi bói kết Kreta muộn - Eoeene + - Trục tách giãn đã ngưng vào cuối E, - N,! hoặc N,? go SN Doi khâu giá định: Đông Qui Nhơn tuổi P - T XXX Các đới khâu khác có tuổi Neopvoterozoi (Tam K$-Phước Sơn, Ngọc Hồi - Chư Sinh, Sông Mã), K› - E: (Kuching-Lupar) — ba giy — Đường bờ —-- Ranh giới quốc gia phân vùng kiến tạo lãnh thổ Việt Nam và vùng kế cận [13] Sự hình thành và phát triển của bể Sông Hồng chịu sự khống chế chặt chẽ của đới đứt gãy Sông Hồng liên quan đến hoạt động giãn tách trên phạm vi lớn và hiện tượng xoay theo chiều kim đồng hồ của khối Đông Dương mà nguyên nhân là do sự va chạm của mảng An Độ và mảng Á-Âu.
Ban đầu bề hình thành với việc giãn tách từ từ theo hướng TB-DN trong thời kỳ đầu kỷ Eocen là hướng chung của khu vực liên quan đến hướng mở rộng biển Đông Việt Nam cô theo hướng ĐB-TN với việc khu vực được nâng lên tạo ra hàng loạt các bể giãn tách phát triển dọc theo rìa Nam của thềm Trung Hoa (Nielsen và nnk. Sự va chạm của mảng An Độ với mảng A-Au trong thời gian cuối HVCH: Nguyễn Hiến Pháp 5 HDKH: TS. Nguyễn Thế Hùng Luận văn Thạc sĩ Eocen đến đầu Oligocen (40 Ma) làm cho khối Đông Dương xoay về phía Đông Nam. Trong khi khối Đông Duong bi day lên và xoay về phía Đông Nam thì khối Nam Trung Hoa vẫn đứng yên (Yang và Besse, 1993).
Hiện tượng tách giãn trượt bằng trái gây ra hoạt động kiến tạo sụt bậc và trượt của khối Đông Dương kéo theo sự xoay một góc từ 15-20 độ theo chiều kim đồng hồ làm cho đứt gay Sông Hồng dịch chuyển so với vị trí ban đầu một khoảng 200-800 km (Tapponnier và nnk. Chuyên động trượt bằng trái này khởi đầu cho việc hình thành nên bề Sông Hồng. Hoạt động trượt bang chủ yếu xuất hiện dọc theo đứt gay sông Chay và Sông Lô. Trong suốt giai đoạn tách giãn các địa hào và bán địa hào được hình thành và lap đầy bởi trầm tích sông, đầm hồ.
Do sụt lún tiếp tục, thê tích nước tăng lên các hồ được mở rộng tiến đến giao thoa với biển tạo ra khoảng trống rộng lớn cho các trầm tích biển đến biển nông, biển ria. Tuy nhiên, đến thời kỳ Oligocen muộn, dưới ảnh hưởng của hoạt động giãn tách đáy mở rộng biển Đông về phía Đông Nam gây ra hiện tượng nén ép ở bé Sông Hồng. Hoạt động này dẫn đến sự đảo ngược và nâng lên của một số khu vực trong bể Sông Hồng hình thành các cấu tạo dạng vòm được phủ lên bởi các trầm tích trẻ hơn, trong suốt thời kỳ cuối Oligocen. Một lượng trầm tích đáng kể trong mặt cắt Oligocen đã bị mat đi.
Các mặt BCH góc quan sát khá phổ biến trên các tuyến địa chấn. Bề mặt BCH này được coi là mốc đánh dấu quan trọng phân tách tập trầm tích đồng giãn tách (syn-rift) với tập trầm tích sau giãn tách (post-rift). Mặt cắt dia chan khu vực theo hướng ĐB-TN cắt qua lô 102-106 HVCH: Nguyễn Hiến Pháp 6 HDKH: TS. Nguyễn Thế Hùng Luận văn Thạc sĩ Chuyên động trượt bang trái tiếp tục doc theo hệ đứt gãy Sông Hong kết hợp với lún chìm nhiệt sau giai đoạn tách giãn mở làm bé Sông Hồng lún chìm nhanh.
Hiện tượng sụt lún nhanh được đánh dấu bởi tram tích biển tiễn làm cho bể được mở rộng về phía đất liền trong thời kỳ Miocen sớm. Tuy nhiên, đến Miocen giữa, sự trôi về hướng Đông của khối Đông Dương bị mảng Sunda chặn lại (Lee và Lawver,1994,1995; Hall, 1996), làm cho đứt gãy Sông Hồng chuyền từ trượt bang trái sang trượt bang phải vì khối Trung Hoa tiếp tục trôi về phía Đông trong khi mang An Độ tiếp tục chìm về phía bắc. Sự thay đổi của hướng chuyền động được ghi nhận trong khu vực bề Sông Hồng bằng sự hình thành của bat chỉnh hợp gần đáy Miocen trung và trên tài liệu địa chấn nhiều nơi quan sát thấy xuất hiện tướng kênh rach sâu (deep channel incision) cũng như việc dễ dàng nhận thấy sự chuyên dịch vi trí của đới tring trầm tích (Vejbaek et al. Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rang sự chuyên hướng dịch chuyên từ trái sang phải xảy ra trong thời gian cuối Miocen đến thời kỳ đầu Pliocen - sớm (Phách, 1994; Pigott và Ru năm 1994; Rangin và nnk.
Các hoạt động trượt bằng làm hình thành các cau trúc nghịch dao là một yếu tố đáng ké trong cơ chế hình thành bẫy dầu khí ở bể Sông Hong. Đới nghịch đảo Miocen Tây Bắc bé Sông Hồng Doi này nam trong một địa hào sâu, chiều sâu móng trên 8 km trong phạm vi từ đất liền ra đến lô 102,103,107 nhưng sau đó bị nghịch đảo trong thời kỳ từ Miocen giữa đến cuối Miocen muộn, ở vài nơi nghịch đảo kiến tạo còn hoạt động trong ca đầu thời kỳ Pliocen. Đới nghịch đảo năm kẹp giữa đứt gãy Sông Chay ở phía Tây Nam và đứt gãy Vĩnh Ninh ở phía Đông Bắc, kéo dài từ đất liền ra biển. Nguôn gốc nghịch đảo kiến tao là do dịch chuyên trượt bằng phải của hệ thong đứt gãy Sông Hồng vào thời kỳ cuối Miocen.
Vì vậy, mặt cắt trầm tích Miocen bị nén ép, nâng lên, bị bào mòn cắt xén mạnh, mắt trầm tích từ vài trăm và có thể đến hàng nghìn mét, thời gian thiếu vắng trầm tích từ một đến vài triệu năm. Càng về phía Tây-Nam của MVHN, hiện tượng bào mòn cắt cụt càng mạnh hơn. HVCH: Nguyễn Hiến Pháp 7 HDKH: TS.