Chương 1: Khái quát về đặc điểm địa chất bồn trũng Cửu Long đƣợc xác định là nóc hệ tầng Bạch Hổ (nóc lớp sét Rotalia) – nóc tập BI. Ranh giới trên đƣợc xác định là đáy tầng cát dày của trầm tích hệ tầng Đồng Nai – nóc tập BII nằm ngang. Các trầm tích hệ tầng Côn Sơn chủ yếu là cát kết hạt mịn, trung – thô xen với các lớp bột kết, đá vôi và vỉa than mỏng, phong phú glauconite. Cát kết màu xám vàng nhạt – xám, nâu nhạt, độ hạt từ mịn đến thô, độ bào mòn từ á sắc cạnh đến tròn cạnh, độ chọn lọc từ kém đến trung bình, gắn kết kém đến cứng - rất cứng.
Nhiều mảnh đá, vật liệu than, ít pirite. Xi măng sét giàu dolomite, anhydrite và calcite ở phần dƣới của hệ tầng. Hệ tầng đƣợc thành tạo trong môi tƣờng sông, đầm lầy và ven bờ biển nông. Hệ Neogene Thống Miocene Phụ thống Miocene thƣợng Hệ tầng Đồng Nai_Tập địa chấn BIII Hệ tầng Đồng Nai đƣợc Ngô Thƣờng San xác lập năm 1980 ở giếng khoan 15-G-1X.
Tuổi của hệ tầng đƣợc xác lập theo tập hợp phong phú bào tử phấn và nannoplanktonic, nghèo hóa đá foraminifera. Bào tử phấn chủ yếu Florschuetzia trilobata, Florschuetzia meridionalis, Rhizophora, Picea. Nannoplanktonic chủ yếu Pseudorotalia, Pulleniatina, Discoaster quinqueramus, Discoaster surculus, Discoaster berggenii thuộc đới (NN10 – NN11). Foraminifera chủ yếu Ammonia, Operculina, Amphisterina thuộc đới (N16 – N18).
Hệ tầng Đồng Nai gồm toàn bộ trầm tích phủ không chỉnh hợp góc yếu trên trầm tích hệ tầng Côn Sơn và nằm dƣới hệ tầng Biển Đông. Ranh giới dƣới tiếp giáp với hệ tầng Côn Sơn – nóc tập BII, đƣợc xác định bởi lớp cát dày ở đáy hệ tầng Đồng Nai có gamma thấp hơn. Ranh giới trên tiếp giáp hệ tầng Biển Đông – nóc tập BIII, đƣợc đặt ở đáy tầng cát có đặc điểm phân lớp dày, dạng khối và có giá trị gamma thấp. HV: Nguyễn Võ Trọng Vũ 14 GVHD: PGS.TSKH Hoàng Đình Tiến Chương 1: Khái quát về đặc điểm địa chất bồn trũng Cửu Long Các trầm tích của hệ tầng Đồng Nai chủ yếu cát kết xen các lớp mỏng sét kết, đá vôi, dolomite và các lớp mỏng than, chứa nhiều hóa đá biển.
Cát kết màu xám, xám sáng, xám phớt nâu, độ hạt trung đến thô lẫn sạn sỏi đôi khi có cuội, có cấu tạo phân lớp dày hoặc dạng khối, độ chọn lọc và mài tròn trung bình – kém. Các trầm tích gắn kết yếu đƣợc thành tạo trong môi trƣờng sông ở phía tây, biển nông và lòng sông ở phía đông. Các trầm tích hệ tầng gần nhƣ nằm ngang, nghiêng thoải và không biến vị, không có tiềm năng dầu khí. Thống Pliocene – hệ Đệ Tứ Hệ tầng Biển Đông_Tập địa chấn A Hệ tầng Biển Đông đƣợc Lê Văn Cự, Hồ Đắc Hòai xác lập năm 1982.
Tuổi của hệ tầng đƣợc xác lập theo tập hợp phong phú các hóa đá foraminifera, Nannoplaktonic và bào tử phấn hoa. Foraminifera chủ yếu là Asterorotalia trispinosa, Pseudorotalia, Globorotalia inflate, Pulleniatina, Pseudorotalia, Globigerinoides, (N19 – N23). Nannoplanktonic chủ yếu Discoaster brouweri, Discoaster quinqueramus, Discoaster Challengerii, Discoaster brouweri, (NN12 – NN19) và bào tử phấn hoa chủ yếu là Pinus, Rhizophora, Dacrydium, Phyllocladus, tuổi Pliocen – Đệ Tứ. Hệ tầng Biển Đông là tầng trầm tích nằm trên cùng, nằm gần nhƣ ngang, nghiêng thoải và không bị biến vị, nằm phủ lên trên hệ tầng Đồng Nai.
Hệ tầng Biển Đông gồm chủ yếu cát hạt mịn với ít lớp mỏng sét kết màu xám nhạt, rất giàu hóa đá biển (đôi khi tạo thành khoảng địa tầng chủ yếu là các mảnh sinh vật biển). Các trầm tích đƣợc thành tạo trong môi trƣờng biển nông trong và giữa. HV: Nguyễn Võ Trọng Vũ 15 GVHD: PGS.TSKH Hoàng Đình Tiến Chương 1: Khái quát về đặc điểm địa chất bồn trũng Cửu Long Hình 1.