mở đầu của giai đoạn đồng tạo rift. Hàng loạt đứt gãy theo hướng Đông Bắc — Tây Nam được hình thành từ các biến cô kiến tao đã nêu ở trên. Bên cạnh đó một số đứt gãy theo hướng Đông — Tây được hình thành do các biến cô kiến tạo khác như tác động của sự thúc trồi vi mảng Indonisia theo các đứt gãy trượt bằng lớn (đứt gãy Sông Hong ở phía Bac, đứt gay Sông Hậu — Ba Chùa ở phía Nam) đã tạo nên các trũng Kainozoi trên các đới khâu ven ria, trong đó có bể Cửu Long. Điều này dẫn đến kết quả hình thành các hệ thống đứt gãy có Luận văn thạc sĩ hướng khác với hệ thống đứt gãy theo hướng Đông-Tây, cận kể với hướng DB-TN.
Trong Oligocen, bể tiếp tục tách giãn, trục giãn đáy biến phát triển lan dan xuống Tây Nam và đổi hướng từ Đông-Tây sang Đông Bắc-Tây Nam vào cuối Oligocen. Các quá trình này đã gia tăng các hoạt động tách giãn và tạo đứt gấy trong Oligocen và nén ép vào cuối Oli gocen. Các hoạt động kiến tạo nêu trên tạo nên nhiều bán địa hào, địa hao cùng hướng phát triển theo các đứt gãy được hình thành. Các bán dia hao, địa hao nay được lap đầy nhanh bang các trầm tích vụn thô, phun trào chủ yếu thành phân bazơ - trung tính và trầm tích trước núi.
Trong thời gian đầu tạo bé có lẽ do chuyên động sụt lún khối tảng, phân dị nên tại các khối trũng khác nhau có thé có các thời kì gián đoạn, bào mòn trầm tích khác nhau. Do khu vực tích tụ trầm tích và cung cấp trầm tích nằm kế cận nhau nên thành phân trầm tích ở các đới trũng khác nhau có thé khác biệt nhau. Vào Oligocen sớm, bao quanh và nam ga lên các khối nhô móng kết tinh phô biến là trầm tích nguồn lục địa - sông ngòi va đầm hồ, với các tập sét dày đên một vài chục mét. Quá trình tách giãn tiếp tục phát triển làm cho bề lún chìm sâu, rộng hơn.
Các hỗ, trũng trước núi trước đó được mở rộng, sâu dan và liên thông nhau và có chế độ trầm tích khá đồng nhất. Các tầng trầm tích hồ dày, phân bố rộng được xếp vào hệ tang Tra Tân được thành tạo, mà chủ yếu là sét giàu vật chất hữu co màu nau, nâu đen tới đen. Các hồ phát triển trong các địa hào riêng biệt được liên thông nhau, mở rộng dan va có hướng phát triển kéo dài theo phương DB-TN, đây cũng là phương phát triển ưu thé của hệ thống đứt gãy mở bề. Hoạt động ép nén vào cuối Oligocen muộn đã đây trồi các khối móng sâu, gây nghịch đảo trong trầm tích Oligocen ở trung tâm các đới trũng chính, làm tái hoạt động các đứt gấy thuận chính ở dạng ép chờm.
trượt băng và tạo nên các cấu trúc “trồi”, các cau tao dương/âm hình hoa, phát sinh các đứt gấy nghịch ở một số nơi như trên cau tao Rang Dong, phía Tây cau tạo Bạch H6 và một số khu vực mỏ Rong. Đồng thời xảy ra hiện tượng bào mòn và vat mong mạnh các tram tích thuộc tang Trà Tân trên. Hoạt động tái căng giãn xãy ra ở nhiêu nơi trong bê vào cuôi Oligocen muộn — dau Miocen sớm chủ yếu hướng ĐB-TN (Hình 1.2), là giai đoạn căng giãn mở rộng tao Luận văn thạc sĩ thành một bê trâm tích có ranh giới bôn phía, ít chịu ảnh hưởng của biên, như là một hô lớn, trâm tích có nhiêu sét ở trung tâm, các trũng sâu và thô dân vê phía các đới cao và ven bờ.2: Mặt cắt địa chan cat qua bê Cửu Long cho thấy hoạt động đứt gay kiến tạo liên quan đên quá trình tách giãn bê van tiếp tục trong giai đoạn dau của Miocen sém(BI.1) ở nhiêu khu vực ở phía Đông — Đông Nam, Trung tâm và Tay bê Cứu Long. Các chứng cứ dia chat này chỉ ra giai đoạn dong tao rift kéo dai dén đâu Miocen sớm [3], [4].
Thời kỳ sau tao rift: Bat đầu từ Miocen sớm đến nay. Thời kỳ này quá trình tách giãn kết thúc, chỉ có các hoạt động yếu ớt của các đứt gãy. Giai đoạn biến tiễn khu vực bat đầu xuất hiện và biến tiễn vào bồn Cửu Long từ phan Đông Bac, day lùi trầm tích lục địa về phía Nam. Vào cuối Miocen sớm, các trũng trung tâm tiếp tục sụt lún, cộng thêm sự oăn võng do sụt lún trọng lực của các trầm tích Oligocen, lam phan lớn diện tích bổn bi chìm sâu dưới mực nước bién và tang sét Rotalite - tang chăn khu vực của bồn được hình thành vào thời gian này.
Do quá trình biến tiễn khu vực nên các trầm tích Miocen dưới phủ chờm lên hầu hết địa hình Oligocen. Thời kỳ Miocen giữa là thời ky nâng lên của bồn trũng Cửu Long, môi trường biển ảnh hưởng ít hơn, phần Đông Bac bổn chủ yếu chịu ảnh hưởng của các điều kiện ven bờ. Thời kỳ Miocen muộn, biến tràn ngập toàn bộ bổn tring Cửu Long. Cũng vào Luận văn thạc sĩ cuối thời ky này, nguồn vật liệu trầm tích do sông Mê Kông đồ vào bể Cửu Long đã làm thay doi môi trường trầm tích, nguồn cung cấp vật liệu, kiểu tích tụ và cả hình thái cau trúc của bê.
Bề trầm tích mở rộng hơn về phía Tây Nam, vào phía đồng bang châu thé sông Mekong ngày nay và bể Cửu Long thông với bể Nam Côn Sơn. Trầm tích được hình thành trong môi trường châu thé sông là chủ yếu. Thời kỳ Plioxen-Dé Tứ, là giai đoạn tích cực kiến tạo mới tạo nên bình đồ cau trúc hiện tại của thêm lục địa Việt Nam. Bề không còn hình dáng cầu trúc riêng mà nó chịu sự chi phối của các hoạt động kiến tạo khu vực và cấu trúc bê Cửu Long hoà chung vào câu trúc toàn thềm lục địa miền Nam Việt Nam [1].2 Cac đơn vị cau tạo của bể Cứu Long Các đơn vị câu tạo của bé được phân chia dựa trên đặc điểm cau trúc địa chất của từng khu vực với sự khác biệt về chiều dày trầm tích và thường được giới hạn bởi những đứt gãy hoặc hệ thông đứt gãy có biên độ đáng kể.
Bé Cửu Long được coi là cau trúc bậc I và nó được chia nhỏ thành các đơn vị cấu trúc bậc II bao gom tring phan di bac Liéu; tring phan di Ca Céi; đới nâng Cửu Long; đới nâng Phú Quy và tring chính bể Cửu Long (Hình 1. Trong đó trũng chính bể Cửu Long (đơn vị cau trúc bậc II) lại được chia nhỏ thành các cấu trúc bậc III gồm: đới sườn nghiêng Tây Bắc, đới nâng Tây Bắc, trũng Đông Bắc, trũng Tây Bạch Hồ, đới nâng Trung Tâm, trũng phía Đông Bạch Hồ, đới sườn nghiêng Đông Nam, đới nâng phía Đông, đới phân dị Đông Bắc, đới phân di Tây Nam [1]. Đối tượng nghiên cứu của dé tài này thuộc về đới sườn nghiêng Đông Nam — cau trúc bậc III của trũng chính bê Cửu Long. Đối tượng nghiên cứu của dé tài được mở rộng sang khu vực lân cận -đới nâng phía Đông - nhằm để đối sánh và làm sáng tỏ các đặc trưng dia chất của các bay vat nhọn địa tang hình thành và phân bố trong khu vực nghiên cứu.
Sườn nghiêng Đông Nam là dải sườn bờ Đông Nam của bẻ, tiếp giáp với đới nâng Côn Sơn. Theo các đánh giá địa chất trước đây, trầm tích của đới này có xu hướng vat nhọn và ga đáy với chiều day mỏng, dao động từ 1 đến 2. Sườn nghiêng Luận văn thạc sĩ 10 này cũng bị phức tạp bởi các đứt gay kiến tạo có phương DB-TN va 4 vĩ tuyến tạo nên các cau tạo địa phương như cấu tạo Amethyst, Cá Ông Đôi, Opal, Sói [1]. Các tài liệu dia chan và giếng khoan gan đây cho thay móng của đới này sâu hơn đánh giá trước đó, và hệ thống dau khí trong khu vực nghiên cứu hoạt động day đủ.
Điều nay đồng nghĩa với bề dày trầm tích trở nên dày hơn và các bẫy chứa dau khí dạng cau trúc, hỗn hợp và địa tang trong khu vực này trở nên có tiềm năng, cần có nhiều đánh giá chỉ tiết hơn. Đới nâng phía Đông trải dài theo hướng Đông Bac-Tay Nam. Đới Nâng phía Đông này ngăn cách với tring Đông Bắc (về phía TB) bởi hệ thông các đứt gãy DB-TN và Đ-T, ngăn cach với Sườn Nghiéng Đông Nam bởi võng nhỏ kéo dai cua trũng Đông Bạch Hồ. Các cau tạo Rang Đông, Phương Đông và Jade đã được xác định từ tài liệu địa chân và giêng khoan ở đới nâng này.
Luận văn thạc sĩ II 1.3 Dia tầng bé Cửu Long Địa tang bể Cửu Long được xác lập từ tài liệu dia chất giếng khoan kết hợp với tài liệu địa chan. Các đặc trưng của các phan vi địa tầng được thể hiện tóm tắt trong cột địa tầng tong hợp của bể Cửu Long (Hình 1. Ranh giới các phân vị địa tầng đều trùng với các mặt phản xạ của các tập địa chan. Các phân vi địa tầng có mặt trong vùng nghiên cứu gồm có các thành tạo đá móng trước Kainozoi và các trầm tích Kainozoi phủ trên móng.
Móng Trước Kainozoi Thanh phan thạch hoc của đá móng ở bé Cửu Long gặp pho biến là các magma xâm nhập granit, granodiorit và diorit. Ngoài ra, còn có thể gặp các đá phun trào, biến chất va trầm tích có tuổi trước Kainozoi như đã lộ ra trên đới Đà Lạt và vùng phụ cận. So sánh kết quả nghiên cứu các phức hệ magma xâm nhập trên đất liền với đá móng kết tỉnh ngoài khơi bề Cửu Long, theo đặc trưng thạch học và tuổi tuyệt đối có thể xếp tương đương với 3 phức hệ: Hòn Khoai, Định Quán và Cà Ná. Phức hệ Hòn Khoai có thé được xem là phức hệ đá magma cổ nhất trong móng của bề Cửu Long, phức hệ có tuổi Trias muộn, tương ứng khoảng 195 đến 250 tr.
Theo tài liệu Địa chất Việt Nam, tập II được dẫn ra ở [1] các thành tao magma thì gramtoid Hòn Khoai được ghép chung với các thành tạo magma xâm nhập phức hệ Ankroet-Định Quán gồm chủ yếu là amphybol-biotit-diorit, monzonit và adamelit. Đá bị biến đối, cà nát mạnh. Phan lớn các khe nứt đã bị lap day bởi khoáng vật thứ sinh: calcit-epidot-zeolit. Đá có thé phân bố chủ yếu ở phan cánh của các khối nâng móng, như cánh phía Đông Bắc mỏ Bạch Hỗ.
Phức hệ Dinh Quán gặp khá phô biến ở nhiều cau tạo Bạch Hồ (vòm Bac), Ba Vi, Tam Đảo và Sói. Ở các mỏ Ruby, Rạng Đông, Sư Tử Đen và Sư Tử Vàng (ở phía Bắc bê), chủ yếu là đá granodiorit, đôi chỗ gặp monzonit-biotit-thach anh đa sắc. Đá thuộc loại kiềm vôi, có thành phân axit vừa phải SiO2 dao động 63-67%.