Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Mỡ bôi trơn là sản phẩm chuyên dụng trong kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, độ tin cậy và tuổi thọ của máy móc, thiết bị. Trên quy mô toàn cầu, lượng tiêu thụ vật liệu bôi trơn đạt khoảng 40 triệu tấn mỗi năm, trong đó mỡ bôi trơn chiếm khoảng 5%. Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ mỡ bôi trơn duy trì ở mức hàng chục nghìn tấn mỗi năm. Hơn 99% các loại mỡ bôi trơn thương phẩm trên thị trường hiện nay được sản xuất từ dầu gốc khoáng kết hợp với chất làm đặc xà phòng của các axit béo. Việc rò rỉ, rơi vãi và thải bỏ bừa bãi mỡ gốc khoáng sau quá trình sử dụng đã trở thành một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do độ phân hủy sinh học của dầu khoáng rất thấp (chỉ khoảng 20%).

Trước yêu cầu cấp thiết về bảo vệ môi trường và sự cạn kiệt của tài nguyên dầu mỏ, việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm bôi trơn có khả năng phân hủy sinh học cao từ este tổng hợp và dầu thực vật đang là xu hướng tất yếu. Dầu thực vật có ưu thế vượt trội về khả năng phân hủy sinh học (thường đạt trên 70% theo tiêu chuẩn ASTM D 5864 / OECD 301 B), có chỉ số độ nhớt tự nhiên cao, tính bôi trơn và chống ăn mòn tốt nhờ các liên kết este phân cực. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất cản trở việc ứng dụng dầu thực vật làm chất bôi trơn là độ bền chống oxy hóa kém. Sự hiện diện của các nối đôi không no (C=C) trong cấu trúc axit béo khiến dầu thực vật dễ bị trùng hợp, tăng độ nhớt, tạo cặn và axit hóa.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về mỡ bôi trơn sinh học trước đây chủ yếu tập trung vào dầu dừa, dầu sở, dầu lạc hoặc dầu hạt cao su. Dầu bông – một sản phẩm phụ của ngành công nghiệp chế biến bông, không có giá trị thương phẩm cao trong công nghệ thực phẩm do khó tinh chế – vẫn chưa được khảo sát một cách có hệ thống. Bên cạnh đó, việc biến tính hóa học dầu thực vật đòi hỏi quy trình phức tạp và làm tăng giá thành, do đó việc sử dụng trực tiếp dầu bông kết hợp với hệ phụ gia chống oxy hóa có hiệu ứng cộng hưởng là giải pháp kỹ thuật có tính thực tiễn cao.

Đồ án tốt nghiệp "Nghiên cứu sử dụng tổ hợp phụ gia Dialkyldithiophosphat kẽm (ZDDP)/ Diphenylamin (DPA) cho mỡ bôi trơn phân hủy sinh học gốc dầu bông" của tác giả Phan Đức Việt (ngành Lọc – Hóa dầu K47, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, thực hiện tại Công ty Phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ APP) được tiến hành nhằm thực hiện 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát tác động chống oxy hóa của hai loại phụ gia ZDDP và DPA lên dầu bông và mỡ bôi trơn gốc dầu bông.
  2. Lựa chọn tổ hợp phụ gia ZDDP/DPA thích hợp nhất làm phụ gia chống oxy hóa cho mỡ bôi trơn phân hủy sinh học gốc dầu bông.
  3. Xem xét các tác động của phụ gia lên các tính chất hóa lý và tính chất sử dụng của mỡ.
  4. Chế tạo mẫu mỡ bôi trơn chứa tổ hợp phụ gia tối ưu, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của mỡ bôi trơn đa dụng cấp NLGI 3.
  • Đối tượng nghiên cứu: Dầu bông thương phẩm (Công ty Bông Miền Nam), chất làm đặc xà phòng liti (tổng hợp từ axit 12-hydroxystearic và liti hydroxyt), phụ gia chống oxy hóa ZDDP và DPA của hãng Lubrizol.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực nghiệm công nghệ tổng hợp mỡ bôi trơn bằng phương pháp xà phòng hóa in situ, đo đạc các chỉ tiêu hóa lý, đánh giá độ bền oxy hóa của dầu gốc và mỡ thành phẩm theo các tiêu chuẩn GOST, ASTM, TCVN tại phòng thí nghiệm Công ty APP vào tháng 5 năm 2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình hóa học

  • Bản chất hệ keo và đặc tính lưu biến của mỡ bôi trơn: Mỡ bôi trơn là một hệ đa phân tán keo gồm môi trường phân tán (dầu gốc chiếm 65–95%), pha phân tán (chất làm đặc chiếm 5–35%) và phụ gia chức năng (0–10%). Về mặt lưu biến, mỡ thể hiện tính chất vật liệu rắn đàn hồi ở tải trọng nhỏ và chuyển sang trạng thái biến dạng dẻo/chảy lỏng khi ứng suất trượt vượt qua giới hạn chảy.
  • Cơ chế phân hủy sinh học: Dầu thực vật bị vi sinh vật phân hủy chuyển hóa thành $CO_2$ và $H_2O$. Tiêu chuẩn đánh giá phân hủy sinh học hoàn toàn (ASTM D 5864, OECD 301 B) quy định mức đạt yêu cầu khi chất bôi trơn chuyển hóa tối thiểu 60% thành $CO_2$ trong 28 ngày.
  • Cơ chế tự oxy hóa của dầu thực vật và dầu khoáng: Diễn ra qua chuỗi phản ứng gốc tự do gồm 4 giai đoạn: khơi mào sinh gốc tự do $R^\bullet$, phát triển mạch tạo gốc peoxyt $ROO^\bullet$ và hydropeoxyt $ROOH$, phân nhánh mạch phân tách $ROOH$ thành các gốc hoạt động $RO^\bullet, HO^\bullet$, và cắt mạch/tắt gốc tạo hợp chất polyme cặn. Đối với dầu thực vật, các liên kết đôi dạng allyl ($-CH=CH-CH_2-$) và đặc biệt là nhóm bis-metylen giữa hai nối đôi rất kém bền, dễ bị tách hydro tạo gốc tự do.
  • Cơ chế tác dụng của phụ gia chống oxy hóa:
    • Phụ gia sơ cấp (Primary antioxidants - DPA): Hoạt động theo cơ chế bắt gốc tự do chuỗi ($ROO^\bullet, RO^\bullet$), nhường nguyên tử hydro để biến các gốc hoạt động thành phân tử bền, làm đứt chuỗi phản ứng tự oxy hóa.
    • Phụ gia thứ cấp (Secondary antioxidants - ZDDP): Đóng vai trò phân hủy hydropeoxyt ($ROOH$) thành các hợp chất rượu không hoạt động, ngăn chặn giai đoạn phân nhánh mạch.
    • Hiệu ứng cộng hưởng (Synergistic effect): Khi kết hợp amin thơm (DPA) và ZDDP hoặc phenol thế, các chất cho proton hỗ trợ tái sinh gốc aminyl, kéo dài chu kỳ làm việc của hệ phụ gia so với khi dùng đơn lẻ.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm công nghệ hóa dầu, kết hợp phân tích hóa lý và đo lường tiêu chuẩn:

  • Phương pháp tổng hợp: Xà phòng hóa in situ axit béo bậc cao (axit 12-hydroxystearic) với dung dịch kiềm LiOH trong nền dầu bông, gia nhiệt đẳng nhiệt, tách nước, nâng nhiệt tạo khối chảy đồng thể, làm nguội nhanh bằng dầu lạnh và đồng hóa cơ học bằng máy cán ba trục.
  • Phương pháp phân tích công cụ và hóa lý nguyên liệu:
    • Xác định thành phần axit béo bằng sắc ký khí (GC) theo chuẩn ASTM D 1983 (chuyển hóa triglyxerit thành metyl este - FAME).
    • Độ nhớt động học và chỉ số độ nhớt (VI): ASTM D 445 và ASTM D 2270.
    • Tỷ trọng: ASTM D 1298 / ASTM D 1217; Nhiệt độ đông đặc: ASTM D 97; Điểm chớp cháy cốc hở: ASTM D 92.
    • Chỉ số axit, xà phòng hóa, iot: TCVN 2639-78, TCVN 6126:1996, TCVN 6122.
  • Phương pháp đánh giá độ bền oxy hóa:
    • Đối với dầu: Tiêu chuẩn GOST 981-75 (nhiệt độ 120 °C, thời gian 14 giờ, thổi dòng oxy 200 ml/phút, xúc tác cuộn dây đồng, xác định axit bay hơi, axit tan trong dầu, độ nhớt và cặn không tan trong n-pentan/clorofom).
    • Đối với mỡ: Tiêu chuẩn ASTM D 942 (oxy hóa trong bom áp suất ở 99 °C, áp suất oxy ban đầu 110 psi, đo độ sụt áp theo thời gian).
  • Phương pháp đánh giá tính chất cơ lý và sử dụng của mỡ:
    • Độ xuyên kim sau khi nhào 60 lần: ASTM D 217 (phân cấp độ cứng NLGI).
    • Nhiệt độ nhỏ giọt: ASTM D 566.
    • Độ ổn định keo (tách dầu): GOST 7142.
    • Độ bền cơ học: ASTM D 1831 (thiết bị Shell Roll, lăn trong 2 giờ).
    • Khả năng chịu tải cực áp (tải trọng hàn dính): ASTM D 2783 trên máy bốn bi.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I – Tổng quan lý thuyết

Phần này hệ thống hóa các kiến thức cơ sở về mỡ bôi trơn, dầu thực vật và cơ chế chống oxy hóa:

  • Cấu trúc và phân loại mỡ: Mỡ bôi trơn có cấu trúc khung mạng không gian 3 chiều tạo bởi các sợi xà phòng liên kết giữ dầu gốc bằng lực Van der Waals. Tác giả tổng hợp bảng so sánh tính chất của các loại mỡ theo chất làm đặc:
Loại chất làm đặc Nhiệt độ nhỏ giọt (°C) Nhiệt độ làm việc cực đại (°C) Độ chịu nước Độ ổn định cơ học Độ bền oxy hóa Khả năng chống gỉ
Mỡ gốc Canxi đơn 96 – 104 79 Tốt Kém – trung bình Khá – tốt Tốt
Mỡ gốc Canxi phức 230 – 250 177 Tốt Tốt Tốt Tốt
Mỡ gốc Natri đơn 110 – 177 120 Kém Kém Khá – tốt Tốt
Mỡ gốc Lithi đơn 177 – 204 130 Tốt Khá Khá Khá
Mỡ gốc Lithi phức 260 180 Tốt Rất tốt Tốt Tốt
Mỡ gốc Polyurea 243 180 Rất tốt Tốt Tốt Tốt
Mỡ gốc Đất sét 260+ 180 Rất tốt Khá – tốt Tốt Khá
  • Phân loại độ đặc theo thang NLGI:
Cấp NLGI Độ xuyên kim ở 25 °C (0,1 mm) Trạng thái vật lý
000 445 – 475 Nửa lỏng
00 400 – 430 Nửa lỏng
0 355 – 385 Nửa lỏng
1 310 – 340 Mềm
2 265 – 295 Dạng kem
3 220 – 250 Hơi cứng
4 175 – 205 Hơi cứng
5 130 – 160 Hơi cứng
6 85 – 115 Cứng
  • Đặc trưng dầu thực vật: Cung cấp các thông số so sánh giữa dầu khoáng và dầu thực vật. Dầu thực vật có chỉ số độ nhớt cao (lên tới 200 so với 90–120 của dầu khoáng), tải trọng hàn dính tốt hơn (1600–1800 N so với 1300–1500 N của dầu khoáng), khả năng phân hủy sinh học cao (>70%), nhưng độ bền oxy hóa và độ bền thủy phân kém hơn.

Phần II – Thực nghiệm

Phần này mô tả toàn bộ nguyên liệu, hóa chất, thiết bị và quy trình công nghệ chế tạo mẫu:

  • Thông số nguyên liệu sử dụng:

    • Axit 12-hydroxystearic: Xuất xứ Ả Rập, chỉ số xà phòng hóa 185 mgKOH/g, chỉ số axit 177 mgKOH/g, chỉ số iot 3 $gI_2/100g$, chỉ số hydroxyl 161 mgKOH/g.
    • Liti hydroxyt: Dạng monohydrat thương phẩm (Trung Quốc), hàm lượng LiOH 55,6%, $H_2O$ 44,3%, $Li_2CO_3$ 0,1%.
    • Dầu bông thí nghiệm: Tỷ trọng $d_{15}^{15} = 0,924$, chỉ số xà phòng hóa 204 mgKOH/g, chỉ số iot 110 $gI_2/100g$, điểm chớp cháy 300 °C, điểm đông đặc 1,5 °C, độ nhớt ở 40 °C là 36 cSt, ở 100 °C là 8 cSt, chỉ số độ nhớt 158.
    • Phụ gia Lubrizol:
      • ZDDP: Độ nhớt ở 40 °C là 320 cSt, ở 100 °C là 14 cSt; tỷ trọng 1,18 kg/l; thành phần: 9,5% P, 20% S, 10% Zn.
      • DPA (mạch ankyl $C_8-C_9$): Độ nhớt ở 40 °C là 260 cSt, ở 100 °C là 11 cSt; điểm chớp cháy cốc hở > 170 °C; tỷ trọng 0,96 kg/l; thành phần 3,9% N.
  • Đơn pha chế cho một mẻ mỡ gốc dầu bông:

STT Nguyên liệu Khối lượng (g)
1 Axit 12-hydroxystearic 100,00
2 Liti hydroxyt 14,43
3 Dầu bông phản ứng 442,20
4 Dầu bông làm nguội 206,50
  • Chu trình công nghệ tổng hợp mỡ:
    1. Nạp axit 12-hydroxystearic và dầu phản ứng vào nồi dung tích 1 lít, gia nhiệt lên 70–75 °C và bật cánh khuấy.
    2. Hòa tan LiOH thành dung dịch 10%, đun nóng đến 80 °C rồi nạp từ từ vào nồi phản ứng.
    3. Duy trì xà phòng hóa ở 100–105 °C trong 2 giờ.
    4. Nâng nhiệt lên 105–110 °C trong 30 phút để đuổi nước hoàn toàn.
    5. Gia nhiệt lên 195–205 °C, giữ tại 205 °C trong 7 phút để khối mỡ chảy trong suốt hoàn toàn.
    6. Cắt gia nhiệt, nạp dầu làm nguội để hạ nhiệt độ nhanh, duy trì khuấy đến 90 °C (phụ gia ZDDP/DPA được nạp ở khoảng nhiệt độ 100–110 °C).
    7. Làm mát và đưa mỡ qua máy đồng thể hóa 3 trục (khe hở 0,3 mm, tốc độ 90 vòng/phút) thực hiện nghiền 3 lần.

Phần III – Kết quả và thảo luận

  • Phân tích thành phần axit béo của dầu bông nguyên liệu: Kết quả phân tích sắc ký khí (GC) tại phòng thí nghiệm APP xác định hàm lượng các axit béo trong mẫu dầu bông:
Axit béo Ký hiệu mạch Số nối đôi Hàm lượng (%)
Axit Miristic C14:0 0 0,52
Axit Oleic C18:1 1 2,88
Axit Linoleic C18:2 2 (chứa nối đôi allyl) 56,12
Axit Linolenic C18:3 3 (chứa nhóm bis-metylen) 13,56

Dữ liệu chỉ ra dầu bông có hàm lượng axit béo không no cao (axit linoleic chiếm 56,12% và linolenic chiếm 13,56%), khẳng định tính cấp thiết phải sử dụng phụ gia chống oxy hóa nhằm ức chế sự phá hủy cấu trúc của dầu và mỡ.

  • Khảo sát tác dụng của phụ gia ZDDP và DPA:
    • Đánh giá khả năng ức chế oxy hóa đơn lẻ của từng phụ gia trên dầu bông theo GOST 981-75.
    • Khảo sát các tỷ lệ phối trộn tổ hợp phụ gia ZDDP/DPA nhằm tìm điểm cộng hưởng tối ưu để giảm thiểu lượng axit bay hơi, axit tan và sự tạo cặn.
    • Thử nghiệm độ bền chống oxy hóa của mẫu mỡ bôi trơn trong bom oxy theo ASTM D 942, ghi nhận độ giảm áp suất qua các mốc thời gian.
    • Đánh giá tổng thể các chỉ tiêu kỹ thuật của mỡ bôi trơn thành phẩm chứa tổ hợp phụ gia lựa chọn, đối chiếu với tiêu chuẩn mỡ đa dụng cấp NLGI 3.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định được thành phần hóa học chi tiết của dầu bông thương phẩm Việt Nam với hàm lượng axit béo không no cao (axit linoleic 56,12%, axit linolenic 13,56%), giải thích rõ nguyên nhân dầu bông có độ nhớt và chỉ số độ nhớt thuận lợi (VI = 158) nhưng kém bền oxy hóa.
  • Xây dựng thành công quy trình công nghệ xà phòng hóa in situ tổng hợp mỡ bôi trơn gốc liti từ dầu bông chưa qua biến tính hóa học ở quy mô phòng thí nghiệm (nhiệt độ xà phòng hóa 100–105 °C trong 2 giờ, nhiệt độ chảy hoàn toàn 205 °C trong 7 phút, nghiền 3 lần qua máy cán 3 trục khe hở 0,3 mm).
  • Chứng minh hiệu quả chống oxy hóa của hệ phụ gia kết hợp giữa chất bắt gốc tự do (DPA) và chất phân hủy hydropeoxyt (ZDDP), tạo hiệu ứng cộng hưởng làm tăng độ bền oxy hóa của dầu bông và mỡ dầu bông vượt trội so với khi dùng đơn lẻ.
  • Chế tạo thành công mẫu mỡ bôi trơn phân hủy sinh học gốc dầu bông đạt các chỉ tiêu chất lượng của mỡ bôi trơn đa dụng cấp NLGI 3 (độ xuyên kim nằm trong dải 220–250 đơn vị 0,1 mm, nhiệt độ nhỏ giọt > 180 °C, độ ổn định keo và độ bền cơ học cao).

Đóng góp của đề tài

  • Là một trong những công trình nghiên cứu ứng dụng trực tiếp dầu bông phế phụ phẩm công nghiệp làm môi trường phân tán cho mỡ bôi trơn phân hủy sinh học tại Việt Nam mà không cần qua khâu biến tính hóa học đắt tiền.
  • Đưa ra giải pháp sử dụng hệ phụ gia tổ hợp ZDDP/DPA giải quyết triệt để điểm yếu kém bền oxy hóa của dầu thực vật, đồng thời tận dụng nguồn N, P, S từ phụ gia để hỗ trợ khả năng phân hủy sinh học của sản phẩm khi phát thải ra môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (mẻ phản ứng 1 lít / ~760 g mỡ), chưa khảo sát động học và hiện tượng truyền nhiệt, truyền khối trên thiết bị phản ứng dung tích lớn.
    • Chưa tiến hành thử nghiệm đo trực tiếp tỷ lệ phân hủy sinh học thực tế của mẫu mỡ thành phẩm theo các tiêu chuẩn sinh học chuyên biệt (ASTM D 5864 hoặc OECD 301 B) mà mới dựa trên cơ sở lý thuyết về khả năng phân hủy của dầu thực vật và thành phần phụ gia.
    • Chưa khảo sát ảnh hưởng của việc lưu trữ mẫu mỡ dài ngày trong điều kiện độ ẩm và nhiệt độ môi trường tự nhiên đối với độ bền thủy phân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Thử nghiệm mở rộng quy mô sản xuất (pilot) và đánh giá độ ổn định của mỡ bôi trơn trên các cụm chi tiết máy móc công nghiệp thực tế.
    • Kiểm tra định lượng khả năng phân hủy sinh học và độc tính sinh thái của mỡ thành phẩm theo phương pháp đo khí $CO_2$ thoát ra trong 28 ngày.
    • Nghiên cứu bổ sung các phụ gia ức chế gỉ và phụ gia thụ động hóa bề mặt kim loại không độc hại để hoàn thiện đơn pha chế mỡ bôi trơn sinh học đa năng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu đồ án có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Công nghệ Lọc – Hóa dầu, Hóa học, Kỹ thuật Hóa học: Tham khảo quy trình thực nghiệm tổng hợp mỡ bôi trơn xà phòng liti, kỹ thuật pha chế và phương pháp đánh giá hệ keo bôi trơn.
  • Kỹ sư nghiên cứu và phát triển (R&D) tại các nhà máy dầu mỡ nhờn, viện nghiên cứu phụ gia dầu mỏ: Ứng dụng quy trình đánh giá độ bền oxy hóa theo GOST 981-75 và ASTM D 942, cũng như cơ chế phối trộn tổ hợp phụ gia cộng hưởng ZDDP/DPA để nâng cao phẩm cấp dầu thực vật kỹ thuật.
  • Các đề tài nghiên cứu về sản phẩm xanh, vật liệu thân thiện môi trường: Cung cấp số liệu hóa lý chuẩn xác về dầu bông và các dòng dầu thực vật dùng làm nguyên liệu bôi trơn thay thế dầu gốc khoáng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao đề tài lại lựa chọn dầu bông chưa biến tính làm dầu gốc thay vì các loại dầu thực vật khác?

Dầu bông là sản phẩm phụ của ngành công nghiệp chế biến sợi bông, có trữ lượng dồi dào nhưng khó tinh chế thành dầu ăn thực phẩm nên không cạnh tranh với an ninh lương thực. Việc sử dụng trực tiếp dầu bông không qua biến tính hóa học giúp giảm thiểu các công đoạn phản ứng phức tạp, từ đó hạ giá thành sản xuất mỡ bôi trơn phân hủy sinh học.

2. Thành phần axit béo nào trong dầu bông ảnh hưởng lớn nhất đến độ bền oxy hóa của mỡ?

Kết quả sắc ký khí (GC) chỉ ra dầu bông chứa tới 56,12% axit linoleic (2 nối đôi dạng allyl) và 13,56% axit linolenic (3 nối đôi có nhóm bis-metylen). Các nhóm allyl và bis-metylen này rất kém bền hóa học, có năng lượng hoạt hóa thấp, dễ bị đứt liên kết tạo gốc tự do và thúc đẩy quá trình tự oxy hóa nhanh gấp nhiều lần so với axit oleic.

3. Đơn pha chế chuẩn để tổng hợp một mẻ mỡ bôi trơn trong đồ án gồm những thành phần nào?

Đơn pha chế chuẩn gồm: 100,00 g Axit 12-hydroxystearic; 14,43 g Liti hydroxyt monohydrat ($LiOH.H_2O$); 442,20 g Dầu bông phản ứng; 206,50 g Dầu bông làm nguội (tổng khối lượng dầu bông là 648,70 g) cùng lượng phụ gia chống oxy hóa ZDDP và DPA thích hợp được nạp ở 100–110 °C.

4. Cơ chế cộng hưởng giữa hai phụ gia ZDDP và DPA diễn ra như thế nào?

DPA là phụ gia chống oxy hóa sơ cấp, đóng vai trò bẫy và ngắt các gốc tự do peoxyt ($ROO^\bullet$) trong giai đoạn phát triển mạch. ZDDP là phụ gia thứ cấp, có chức năng phân hủy các hydropeoxyt ($ROOH$) thành rượu không hoạt động để chặn đứng giai đoạn phân nhánh mạch. Khi kết hợp, hai cơ chế này bổ trợ lẫn nhau, làm chậm quá trình suy giảm phẩm chất của dầu và kéo dài thời gian làm việc của hệ bôi trơn.

5. Thiết bị và thông số đồng thể hóa mỡ sau khi nấu trong nghiên cứu được quy định ra sao?

Khối mỡ sau khi nấu và làm nguội được xử lý đồng thể hóa trên máy cán mỡ 3 trục thí nghiệm với khe hở giữa các trục là 0,3 mm và tốc độ quay 90 vòng/phút. Mỡ được cho qua thiết bị cán nghiền đồng thể 3 lần nhằm dàn đều mạng lưới sợi xà phòng liti trong dầu gốc, đảm bảo độ mịn, độ đồng nhất và độ ổn định cơ học của mỡ.


Kết luận

Đồ án tốt nghiệp của tác giả Phan Đức Việt đã giải quyết thành công bài toán tận dụng dầu bông – một phế phụ phẩm công nghiệp dồi dào – để chế tạo mỡ bôi trơn phân hủy sinh học thân thiện với môi trường. Bằng việc kết hợp hiệu quả tổ hợp phụ gia chống oxy hóa ZDDP/DPA, nghiên cứu đã khắc phục triệt để nhược điểm kém bền oxy hóa của dầu thực vật tự nhiên mà không cần qua quy trình biến tính phức tạp. Sản phẩm mỡ bôi trơn xà phòng liti thu được đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu kỹ thuật khắt khe của mỡ bôi trơn đa dụng cấp NLGI 3, mở ra hướng ứng dụng thực tiễn có giá trị kinh tế và kỹ thuật cao trong ngành công nghiệp sản xuất chất bôi trơn sinh học tại Việt Nam.