ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với đời sống của con ngƣời và sinh vật trên Trái Đất. Nƣớc chiếm 70% diện tích của Trái Đất nhƣng chỉ có 0.3% tổng lƣợng nƣớc trong số đó là có thể khai thác và dùng làm nƣớc uống.[5] Tuy nhiên loài ngƣời hiện nay đang đứng trƣớc nguy cơ thiếu nƣớc nghiêm trọng , chất lƣợng nguồn nƣớc ngày càng suy giảm do đó đã và đang gây ra những tác hại rất lớn đối với sức khỏe và đời sống con ngƣời. Theo thống kê cho thấy trên thế giới hiện có 80 quốc gia và 40% dân số không đủ nƣớc dùng, 1/3 các điểm dân cƣ phải dùng các nguồn nƣớc ô nhiễm để ăn uống và sinh hoạt , hệ quả là hằng năm có trên 500 triệu ngƣời mắc bệnh , 10 triệu ngƣời ( chủ yếu là trẻ em ) bị chết, riêng bệnh tiêu chảy đã cƣớp đi mạng sống của 2,5 triệu trẻ em mỗi năm. Năm 2008 trong nhận xét bản báo cáo của UNICEF và WHO về “Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu nƣớc uống và vệ sinh ” ông David Agnew, Chủ tịch kiêm tổng giám đốc UNICEF Canada phát biểu nhƣ sau “ Báo cáo này đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với cộng đồng thế giới.
Hiện nay chúng ta phải chứng kiến 40% dân số thế giới thiếu nƣớc sạch cho sinh hoạt và điều kiện vệ sinh tối thiểu. Chúng ta mất đi 4000 trẻ em mỗi ngày, đó là một thực trạng đau lòng và bức xúc hiện nay”. Việt Nam cũng đang đứng trƣớc thách thức hết sức về nạn ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị. Hầu hết các thành phố lớn nhƣ Hà Nội và TP.HCM đều bị ô nhiễm.
Theo ƣớc tính của Quỹ Nhi đồng LHQ ( UNICEF ) ở Việt Nam có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chƣa đƣợc sử dụng nƣớc sạch và khoảng 20 triệu (59%) chƣa có nhà tiêu hợp vệ sinh [5]. Hơn nữa dƣới sự tác động của việc bùng nổ dân số, chất thải sinh hoạt, chất thải công- nông nghiệp và do hành vi của con ngƣời đã khiến cho nguồn nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân ngày càng bị ô nhiễm, gây ảnh hƣởng xấu tới sức khỏe, đời sống của hàng triệu ngƣời dân ở cả thành thị và nông thôn trên cả nƣớc. 1 Nằm phía Đông ngoại thành Hà Nội, Xã Tân Phú- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội, trƣớc đây là một địa phƣơng thuần nông còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên trong những năm còn đây với sự phát triển kinh tế - xã hội đời sống nhân dân cũng không ngừng đƣợc cải thiện.
Đi kèm với sự phát triển ô nhiễm môi trƣờng là một vấn đề rất đƣợc chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng quan tâm, đặc biệt là nguồn nƣớc sinh hoạt. Tuy nhiên hiện nay chƣa có công trình nghiên cứu nào điều tra, đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn xã Tân Phú- Quốc Oai - Hà Nội. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tại Xã Tân Phú, đƣợc sự đồng ý của Nhà trƣờng, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trƣờng, dƣới sự hƣớng dẫn của cô Th.S Trần Thị Thanh Thủy em đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng sinh hoạt tại địa bàn xã Tân Phú, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về nƣớc sinh hoạt 1. Một số khái niệm cơ bản Nƣớc sinh hoạt là nguồn nƣớc đƣợc sử dụng hàng ngày cho nhu cầu sinh hoạt nhƣ tắm, giặt giũ, nấu nƣớng, rửa, vệ sinh. thƣờng không sử dụng để ăn, uống trực tiếp.[14] Nƣớc sinh hoạt đảm bảo (nƣớc sạch) là nƣớc có các tiêu chuẩn đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lƣợng nƣớc sinh hoạt QCVN 02:2009/BYT. Về cơ bản nƣớc đạt yêu cầu: không màu, không mùi, không vị lạ, không có các thành phần gây ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời.[14] Nƣớc ăn uống: Là loại dùng để ăn uống, dùng cho các cơ sở chế biến thực phẩm.
[14] Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi các thành phần của nƣớc khác biệt với trạng thái ban đầu. đó là sự biến đổi các chất hóa, lý, sinh vật và sự có mặt của chúng trong nƣớc làm cho nƣớc trở nên độc hại. Nư c ngầm Nƣớc ngầm là nguồn nƣớc nằm ở dƣới bề mặt lớp đất sỏi và trong những tầng địa chất thấm qua đƣợc. Nƣớc ngầm là một nguồn rất quan trọng của nƣớc sạch, chiếm 97% lƣợng nƣớc ngọt trên Trái đất.
Khoảng 2 tỉ ngƣời cả ở thành phố và nông thôn đang phụ thuộc vào lƣợng nƣớc này cho những nhu cầu sống hằng ngày. Nhƣng nguồn nƣớc này giờ đây cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều lý do khác nhau. [9] Các nguồn gây ô nhiễm nƣớc ngầm chính là các bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh. Ngoài ra nƣớc thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản đều có khả năng bị rò rỉ và ngấm vào tầng chứa nƣớc ngầm.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối với nguồn nƣớc ngầm. 3 Các quá trình hình thành địa chất tự nhiên là nguồn giải phóng kim loại nặng vào nƣớc ngầm, trong đó phổ biến nhất là ô nhiễm Asen. Việt Nam là nƣớc có nguồn nƣớc ngầm tƣơng đối dồi dào về cả trữ lƣợng và chất lƣợng, đƣợc coi là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên dễ sử dụng nhất. Theo Tổng cục môi trƣờng Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng thì ở nƣớc ta nƣớc ngầm chiếm khoảng 35% đến 40% tổng số lƣợng nƣớc sinh hoạt của ngƣời dân.
[6] Nƣớc ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nƣớc đó là cực k quan trọng. Một số biện pháp ngăn chặn cơ bản là tăng cƣờng kiểm soát đối với việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nƣớc hợp vệ sinh. Tuy nhiên cho đến nay ở các nƣớc đang phát triển các biện pháp này đƣợc tiến hành rất chậm chạp, trong khi hệ thống nƣớc ngầm đang ngày càng bị nhiễm bẩn nghiêm trọng. Nƣớc ngầm đƣợc ngƣời dân sử dụng thông qua hai hình thức là chủ yếu: - Nƣớc giếng khoan Là giếng đƣợc khoan dƣới lòng đất để lấy nƣớc từ nguồn nƣớc ngầm.
Đƣợc khai thác ở tầng nông khoảng 40-60m, tầng sâu khoảng 250m. Nguồn nƣớc này ít bị ảnh hƣởng bởi ngoại cảnh nhƣng hay bị chi phối bởi các cấu trúc địa tầng, khoáng sản. Nguồn nƣớc này ít bị ô nhiễm, chiếm ít diện tích, chi phí vận hành, bảo dƣỡng thấp, đủ nƣớc quanh năm, phù hợp với mọi gia đình. Nhƣng chi phí lắp đặt cao, không phù hợp với một số gia đình có điều kiện khó khăn.
- Nƣớc giếng đào Là giếng khai thác nƣớc ngầm ở tần nông nằm dƣới mặt đất từ 5-18m nguồn nƣớc này có nhiều khoáng chất, nhƣng dễ bị ô nhiễm bởi nƣớc mặt và các yếu tố bên ngoài. Nguồn nƣớc này phù hợp với các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, chi phí vận hành bảo dƣợng thấp, dễ sử dụng có thể gắn với các thiết bị lấy nƣớc nhƣ máy bơm tay, bơm điện.Tuy nhiên không phù hợp với vùng có lũ, dễ bị ô 4 nhiểm do các tác động bên ngoài, không đủ nƣớc vào mùa khô hay khó tìm đƣợc nguồn nƣớc tốt tại một số vùng. Nư c cấp sinh hoạt Nƣớc cấp là nƣớc sau khi đƣợc xử lý tại cơ sở xử lý nƣớc đi qua các trạm cung cấp nƣớc và từ các trạm này nƣớc sẽ đƣợc cung cấp cho ngƣời tiêu dùng. Có 2 nguồn cấp nƣớc chính là nƣớc mặt và nƣớc ngầm, tuy nhiên do nguồn nƣớc sông, nƣớc hồ ngày càng ô nhiễm nên nguồn nƣớc ngầm là nguồn cung cấp chính.
Các biện pháp xử lý nƣớc cấp thông thƣờng nhƣ: – Biện pháp cơ học : Các công trình nhƣ hồ chứa và lắng sơ bộ, song chắn rác , lƣới chắn rác, bể lắng, bể lọc… – Biện pháp hóa học: Sử dụng các hóa chất để keo tụ, tạo bông, oxy hóa mạnh các chất để khử trùng… – Biện pháp lý học: Dùng các tia vật lý để khử trùng nhƣ tia tử ngoại, sóng siêu âm, điện phân, làm thoáng … Tuy nhiên, thông thƣờng để xử lý nƣớc cấp ta thƣờng kết hợp các biện pháp lại với nhau để tăng hiệu quả xử lý và hiệu suất của hệ thống. Nư c mưa Mƣa là một dạng ngƣng tụ của hơi nƣớc khi gặp điều kiện lạnh, khi có quá nhiều giọt nƣớc hình thành ở mây lâu ngày các đám mây càng nặng (do những giọt nƣớc quá nhiều) sẽ rơi xuống tạo thành mƣa. Nƣớc mƣa đƣợc thu hứng từ mái ngói, mái tôn, trần nhà bằng bê tông… và đƣợc dẫn vào trong bể chứa nƣớc mƣa. Loại này đƣợc sử dụng rộng rãi tại nhiều vùng nông thôn, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi và đƣợc coi là rất an toàn.
Tuy nhiên hiện nay vấn đề ô nhiễm không khí đã làm suy giảm chất lƣợng nƣớc mƣa, mặt khác do mùa khô lƣợng mƣa rất ít nên thƣờng không đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng. Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nư c sinh hoạt Chất lƣợng nƣớc sinh hoạt bị ảnh hƣởng do nhiều nguyên nhân khác nhau gồm: Nguyên nhân tự nhiên (thiên tai, lũ lụt,.) nguyên nhân nhân tạo (do các 5 hoạt động sống của con ngƣời gây ra. Tuy nhiên ta có thể liệt kê một số nguyên nhân cơ bản gây ảnh hƣởng đến các hình thức sử dụng nƣớc sinh hoạt nhƣ sau: a) Các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm - Nguyên nhân tự nhiên: Chất lƣợng nƣớc ngầm bị ảnh hƣởng do mƣa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ.
Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nƣớc ngầm. Do sự hòa tan nhiều chất muối khoáng có nồng độ quá cao, trong đó có chất gây ung thƣu nhƣ Arsen, Fluor, kim loại nặng…. Các tác nhân tự nhiên nhƣ nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lƣợng Fe, Mn và một số kim loại khác cũng làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng nƣớc ngầm. - Nguyên nhân nhân tạo: Do rác thải sinh hoạt từ ngƣời dân ngày càng tăng cao, rác thải không qua xử lý thải trực tiếp ra môi trƣờng.
Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp, sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, kích thích tăng trƣởng, chăn nuôi. Ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, từ khí đốt trong các nhà máy cho đến nguồn nƣớc chất thải chƣa qua xử lý, trực tiếp đƣợc thải ra môi trƣờng.