Ứng dụng GIS và WQI đánh giá chất lượng nước kênh Tân Hóa - Lò Gốm

Đồ án nghiên cứu tốt nghiệp tên đề tài nghiên cứu ứng dụng gis kết hợp wqi đánh giá tình trạng nước mặt tại hệ thống, áp dụng công nghệ tiên tiến, tối ưu giải pháp kỹ thuật cho

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2017

218
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tài nguyên nước

1.1.1. Khái niệm tài nguyên nước [6]

1.1.2. Phân loại tài nguyên nước [6]

1.1.3. Quy luật biến động tài nguyên nước theo thời gian [6]

1.1.3.1. Tính chu kỳ
1.1.3.2. Tính ngẫu nhiên

1.2. Ô nhiễm môi trường nước

1.2.1. Khái niệm môi trường nước và ô nhiễm môi trường nước

1.2.2. Nguồn gốc ô nhiễm môi trường nước

1.2.3. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước

1.2.4. Các tiêu chuẩn, chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước hay mức độ ô nhiễm nước

1.3. Khu vực nghiên cứu

1.3.1. Vị trí địa lý khu vực

1.3.2. Vai trò của khu vực

1.4. Điều kiện tự nhiên

1.4.1. Đặc điểm khí hậu

1.4.2. Đặc điểm địa hình

1.4.3. Đặc điểm thủy văn sông rạch

1.5. Điều kiện kinh tế xã hội

1.5.1. Đặc điểm xã hội

1.5.2. Đặc điểm hiện trạng kinh tế

1.6. Hiện trạng môi trường khu vực

1.6.1. Chất lượng nước kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước khi cải tạo

1.6.2. Chất lượng nước kênh Tân Hóa – Lò Gốm sau khi cải tạo

1.7. Tổng quan về chỉ số chất lượng nước WQI

1.7.1. Tổng quan về chỉ số chất lượng nước WQI [2]

1.7.2. Tổng quan về chỉ số môi trường

1.7.3. Mục đích của chỉ số môi trường

1.7.4. Khái niệm WQI:

1.7.5. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chỉ số WQI của một số quốc gia trên thế giới

1.7.6. Tình hình nghiên cứu và áp dụng WQI tại Việt Nam

1.8. Tổng quan về ứng dụng GIS [5]

1.8.1. Khái niệm GIS

1.8.2. Các khả năng xử lỷ của GIS

1.8.3. Định nghĩa hệ thống thông tin môi trường

1.8.4. Công nghệ cơ sở dữ liệu trong nghiên cứu môi trường

1.8.5. Vai trò của GIS trong nghiên cứu môi trường

1.8.6. Một số công trình nghiên cứu xây dựng HTTTMT

1.8.7. Các nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý môi trường

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Dụng cụ và thiết bị

2.1.2. Thời gian và địa điểm

2.1.3. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp lấy mẫu

2.2.1.1. Khảo sát vị trí các điểm lấy mẫu
2.2.1.2. Lấy mẫu, vận chuyển và lưu trữ

2.2.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu

2.2.2.1. Phân tích chỉ tiêu P-PO 43-[9],[13]
2.2.2.2. Phân tích chỉ tiêu Tổng Coliform (MPN) [8]
2.2.2.3. Phân tích chỉ tiêu COD bằng thiết bị Elox 100 [10]
2.2.2.4. Phân tích chỉ tiêu NH 4+ bằng thiết bị Amonitor [11]

2.2.3. Phương pháp xây dựng chỉ số WQI [1]

2.2.3.1. Các yêu cầu đối với việc tính toán WQI
2.2.3.2. Quy trình tính toán
2.2.3.3. Thu thập, tập hợp số liệu quan trắc
2.2.3.4. Tính toán WQI
2.2.3.5. So sánh chỉ số chất lượng nước đã được tính toán với bảng đánh giá

2.2.4. Phương pháp mô hình Streeter – Phelps:

2.2.4.1. Cách tiếp cận cân bằng vật chất
2.2.4.2. Độ thiếu hụt oxy
2.2.4.3. Độ thiếu hụt ban đầu
2.2.4.4. Phương trình diễn biến của DO:
2.2.4.5. Sự nạp không khí

2.2.5. Phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả phân tích các chỉ tiêu

3.2. Kết quả phân tích phosphate

3.2.1. Kết quả phân tích triều lên

3.2.2. Kết quả phân tích phosphate giờ triều xuống

3.3. Kết quả phân tích coliform

3.3.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.3.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.4. Kết quả phân tích DO

3.4.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.4.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.5. Kết quả phân tích BOD 5

3.5.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.5.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.6. Kết quả phân tích độ đục

3.6.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.6.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.7. Kết quả phân tích COD

3.7.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.7.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.8. Kết quả phân tích Amoni

3.8.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.8.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.9. Kết quả phân tích TSS

3.9.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.9.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.10. Kết quả phân tích pH

3.10.1. Kết quả phân tích giờ triều lên

3.10.2. Kết quả phân tích giờ triều xuống

3.11. nhận xét chung về kết quả phân tích lý hóa trên kênh Tân Hóa – Lò Gốm

3.11.1. Về pH, chất rắn lơ lửng, độ đục

3.11.2. Ô nhiễm chất hữu cơ

3.11.3. Chất dinh dưỡng

3.11.4. Các vi sinh vật gây bệnh

3.12. Kết quả tính toán chỉ số WQI

3.12.1. Diễn biến chất lượng nước mặt theo chỉ số WQI tại các vị trí lấy mẫu thuộc hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm khi triều lên

3.12.2. Diễn biến chất lượng nước mặt theo chỉ số WQI tại các vị trí lấy mẫu thuộc hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm khi triều xuống

3.12.3. Biểu đồ diễn biến chất lượng nước mặt của kênh Tân Hóa – Lò Gốm tại các vị trí lấy

3.13. Thành lập bản đồ và kết quả quan trắc

3.14. Tính toán lan truyền chất theo mô hình streeter

3.14.1. Thông tin về kênh và nguồn xả

3.14.1.1. Thông tin về kênh
3.14.1.2. Thông tin về nguồn xả

3.15. Đánh giá và đề xuất biện pháp

3.15.1. Đánh giá khả năng sử dụng nguồn nước kênh Tân Hóa – Lò Gốm

3.15.2. Đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước kênh Tân Hóa – Lò Gốm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH GHI NHẬN TRONG QUÁ TRÌNH QUAN TRẮC KÊNH TÂN HÓA- LÒ GỐM

PHỤ LỤC 2: BẢNG MAC CRADY

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

Tóm tắt

I. Đánh giá Chất lượng nước kênh Tầm quan trọng và thách thức hiện nay

Nước là tài nguyên thiết yếu, đóng vai trò sống còn trong đời sống sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường nước đang trở thành một mối lo ngại nghiêm trọng, đặc biệt tại các khu vực đô thị và kênh rạch. Các con kênh, vốn là huyết mạch của thành phố, thường xuyên tiếp nhận lượng lớn nước thải sinh hoạt và công nghiệp chưa qua xử lý, dẫn đến suy giảm chất lượng nước kênh đáng kể. Ví dụ điển hình là hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm tại TP. Hồ Chí Minh, nơi chất lượng nước mặt có xu hướng tái ô nhiễm dù đã được cải tạo (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Trước đây, việc phân tích chất lượng nước kênh thường dựa vào từng chỉ số riêng lẻ và so sánh với các tiêu chuẩn chất lượng nước mặt. Cách tiếp cận này bộc lộ nhiều hạn chế. Thứ nhất, việc đánh giá từng thông số riêng biệt không thể phản ánh chất lượng nước tổng quát của toàn bộ thủy vực. Thứ hai, với những thông số có giá trị vượt hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép (như DO), chỉ những chuyên gia có chuyên môn sâu mới có thể hiểu được ý nghĩa thực sự của chúng. Điều này gây khó khăn lớn trong việc truyền tải thông tin về tình trạng chất lượng nước cho công chúng, cũng như cản trở các nhà quản lý đưa ra quyết định kịp thời về quản lý tài nguyên nướcbảo vệ môi trường nước.

Để khắc phục những khó khăn này, nhu cầu về một phương pháp đánh giá chất lượng nước kênh toàn diện, dễ hiểu và có tính tổng hợp cao trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa Chỉ số chất lượng nước (WQI)Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã nổi lên như một giải pháp đột phá, cung cấp cái nhìn tổng thể về đánh giá ô nhiễm nước kênh theo cả không gian và thời gian. Điều này không chỉ giúp nhà quản lý nắm bắt thông tin nhanh chóng, chính xác mà còn nâng cao ý thức bảo vệ môi trường nước cho cộng đồng (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Việc áp dụng công nghệ mới như GIS và WQI mang lại nhiều tiện ích, thể hiện là giải pháp hiện đại và hiệu quả cho quản lý môi trường.

Nghiên cứu ứng dụng GIS kết hợp WQI không chỉ cung cấp cơ sở dữ liệu mạnh mẽ mà còn giúp phân vùng chất lượng nước, từ đó hỗ trợ đưa ra các chiến lược bền vững cho các dòng kênh đô thị. Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, đặc biệt là ngành khoa học bản đồ với đỉnh cao là GIS, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật, tổng hợp, phân tích và truy xuất thông tin môi trường một cách nhanh chóng và chính xác. Điều này góp phần quan trọng vào việc kiểm soát chất lượng nước thủy lợi và các mục đích sử dụng nước khác, đảm bảo phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậuáp lực đô thị hóa.

1.1. Thực trạng ô nhiễm và nhu cầu phân tích chất lượng nước kênh đô thị

Các kênh rạch tại các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với mức độ ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Nguồn gốc chính là nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý, nước thải công nghiệp từ các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, và chất thải rắn đổ thẳng xuống kênh (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Kết quả là chất lượng nước kênh suy giảm mạnh, thể hiện qua các chỉ tiêu BOD, COD cao, DO thấp, và nồng độ Coliform vượt ngưỡng cho phép nhiều lần. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học thủy sinh và cảnh quan đô thị. Nhu cầu cấp thiết là phải có một phương pháp phân tích chất lượng nước kênh tổng hợp, không chỉ đánh giá riêng lẻ từng thông số mà còn tích hợp chúng để đưa ra một cái nhìn toàn diện về tình trạng sức khỏe của kênh.

1.2. Hạn chế của phương pháp đánh giá truyền thống về chất lượng nước

Các phương pháp đánh giá chất lượng nước truyền thống thường chỉ tập trung vào việc so sánh từng chỉ tiêu chất lượng nước riêng lẻ (như pH, DO, TSS, Amoni) với tiêu chuẩn chất lượng nước mặt hiện hành. Hạn chế lớn nhất của cách tiếp cận này là không thể cung cấp một bức tranh tổng thể, dễ hiểu về chất lượng nước tổng quát. Khi một số thông số đạt chuẩn nhưng một số khác lại vượt ngưỡng, việc kết luận về tình trạng ô nhiễm trở nên phức tạp và khó truyền đạt đến những người không chuyên. Điều này cản trở việc ra quyết định hiệu quả của các nhà quản lý tài nguyên nước và giảm khả năng nâng cao ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nước.

II. Chỉ số chất lượng nước WQI Phương pháp toàn diện phân tích ô nhiễm

Để vượt qua các hạn chế của phương pháp đánh giá truyền thống, Chỉ số chất lượng nước (WQI) đã được phát triển và áp dụng rộng rãi trên thế giới. WQI là một chỉ số tổ hợp, được tính toán từ nhiều thông số chất lượng nước khác nhau thông qua một công thức toán học, sau đó được biểu diễn trên một thang điểm thống nhất và dễ hiểu (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Điều này cho phép đánh giá chất lượng nước tổng quát một cách nhanh chóng, trực quan, phù hợp cho cả chuyên gia và công chúng.

Mục đích chính của chỉ số chất lượng nước WQI là phản ánh hiện trạng và diễn biến của chất lượng môi trường, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách để cân nhắc các vấn đề môi trường và phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững. WQI giúp thu gọn và đơn giản hóa thông tin, tăng tính hiệu quả trong quản lý môi trường nước. Một trong những ứng dụng quan trọng là phân vùng chất lượng nước, giúp xác định các khu vực có mức độ ô nhiễm khác nhau và ưu tiên các biện pháp xử lý.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã xây dựng và áp dụng các mô hình WQI riêng. Ví dụ, WQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (NSF) được phát triển dựa trên ý kiến của các chuyên gia, có tính đến trọng số khác nhau của từng thông số. WQI của Canada (CCME) lại sử dụng quy trình thống kê với các hệ số phạm vi, tần suất và biên độ (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Tại Việt Nam, Tổng cục Môi trường cũng đã ban hành Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật tính toán chỉ số chất lượng nước nhằm thống nhất phương pháp áp dụng.

Việc lựa chọn các chỉ tiêu chất lượng nước để tính toán WQI là rất quan trọng và tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Thông thường, các chỉ tiêu như nhiệt độ (T), oxy hòa tan (DO), pH, Coliform phân (FC), tổng nitơ (TN), tổng phospho (TP), tổng chất rắn lơ lửng (SS), BOD và độ đục thường được sử dụng. Một chỉ số WQI cao (ví dụ, trên 80) thường cho thấy chất lượng nước tốt, trong khi chỉ số thấp (dưới 40) báo hiệu tình trạng ô nhiễm đáng lo ngại, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát chất lượng nước thủy lợi cấp bách (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). WQI không chỉ là công cụ để xếp hạng mà còn giúp xác định các khu vực ô nhiễm nước kênh cần được chú ý đặc biệt. Từ đó, các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định phân bổ tài chính và xác định các vấn đề ưu tiên trong bảo vệ môi trường nước. Ngoài ra, WQI cũng hỗ trợ phân tích diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian, cung cấp thông tin hữu ích cho cộng đồng và các nghiên cứu khoa học vĩ mô về mô hình hóa chất lượng nước và tác động của đô thị hóa.

Những lợi ích này khẳng định WQI là công cụ không thể thiếu trong quản lý tài nguyên nước hiện đại, giúp đơn giản hóa dữ liệu phức tạp thành thông tin dễ hiểu và có thể hành động được.

2.1. Khái niệm WQI và các chỉ tiêu quan trọng để tính toán

Chỉ số chất lượng nước (WQI) là một giá trị số tổng hợp phản ánh tình trạng chất lượng nước dựa trên sự kết hợp của nhiều thông số khác nhau. WQI chuyển đổi dữ liệu phức tạp thành một con số đơn giản, dễ hiểu cho mọi đối tượng. Các chỉ tiêu chất lượng nước chính được sử dụng để tính WQI thường bao gồm: BOD (Nhu cầu oxy sinh hóa), COD (Nhu cầu oxy hóa học), DO (Oxy hòa tan), pH, TSS (Tổng chất rắn lơ lửng), Amoni, Nitrat, Phosphat, và Coliform (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Mỗi chỉ tiêu này đóng góp một phần vào việc đánh giá tổng thể mức độ ô nhiễm nước kênh. Ví dụ, DO thấp cho thấy sự thiếu hụt oxy, thường do ô nhiễm hữu cơ, trong khi nồng độ Amoni và Phosphat cao chỉ ra tình trạng phú dưỡng hóa.

2.2. Phương pháp tính WQI Các bước và thang đánh giá phổ biến

Phương pháp tính WQI bao gồm các bước cơ bản: thu thập và tập hợp số liệu quan trắc của các chỉ tiêu chất lượng nước đã chọn, tính toán chỉ số phụ (sub-index) cho từng thông số, sau đó tổng hợp các chỉ số phụ này bằng công thức có trọng số để ra chỉ số WQI cuối cùng. Thang điểm WQI thường nằm trong khoảng từ 0 đến 100, với các mức đánh giá khác nhau (ví dụ: >90 Rất tốt, 76-90 Tốt, 51-75 Trung bình, 26-50 Kém, <25 Rất kém). Một ví dụ cụ thể là WQI của Việt Nam thường sử dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT) làm cơ sở để so sánh và đánh giá. Kết quả tính toán WQI sẽ cho thấy mức độ ô nhiễm nước kênh từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường nước phù hợp (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

III. Hệ thống thông tin địa lý GIS Ứng dụng đột phá trong giám sát môi trường nước

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một công cụ máy tính mạnh mẽ được thiết kế để nắm bắt, lưu trữ, cập nhật, điều khiển, phân tích và hiển thị tất cả các dạng thông tin có liên quan đến vị trí địa lý. Trong bối cảnh đánh giá chất lượng nước kênh, ứng dụng GIS trong môi trường mang lại một bước đột phá đáng kể, giúp các nhà quản lý tài nguyên nước có cái nhìn toàn diện và trực quan hơn về tình trạng ô nhiễm nước kênh (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). GIS kết hợp các thao tác cơ sở dữ liệu truyền thống với các phép phân tích thống kê và địa lý, cho phép tạo ra bản đồ chất lượng nước chi tiết, thể hiện sự phân bố không gian của các chỉ tiêu chất lượng nướcchỉ số WQI.

Vai trò của GIS trong nghiên cứu môi trường là vô cùng quan trọng. Nó giúp phân tích các yếu tố môi trường dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nhận được từ viễn thám không gian hoặc từ các điểm quan trắc. Các khả năng xử lý của GIS bao gồm chỉnh sửa, chuyển đổi tọa độ, hiệu chỉnh dữ liệu, và quan trọng nhất là các chức năng phân tích không gian như định vị, truy vấn, đo đạc, phân loại, chồng lớp, tìm kiếm trong phạm vi và tạo vùng đệm. Nhờ đó, GIS hỗ trợ hiệu quả việc giám sát chất lượng nước, theo dõi biến động tài nguyên và tình hình phát triển để phục vụ quy hoạch môi trường nước (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Việc sử dụng phần mềm GIS cho môi trường như ArcMap (như đã được ứng dụng trong nghiên cứu kênh Tân Hóa – Lò Gốm) cho phép xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu không gian môi trường về các thông số quan trắc chất lượng nước mặt. Qua đó, ứng dụng công nghệ mới này không chỉ cung cấp nhiều tiện ích mà còn là giải pháp hiện đại, hiệu quả cho quản lý môi trường, đặc biệt trong việc đánh giá ô nhiễm nước kênh và đưa ra các chiến lược bảo vệ.

Ngoài ra, GIS còn là một công cụ đa môi trường (multimedia), cho phép kết hợp các biểu diễn văn bản, âm thanh và các ký hiệu, tạo ra các bản đồ điện tử, mô hình máy tính 3 chiềumô hình động dạng phim, giúp thông tin cho cộng đồng một cách trực quan và dễ hiểu hơn. Sự phát triển mạnh mẽ của GIS từ thập niên 90 đã biến nó thành một ngành công nghiệp tỷ đô, được giảng dạy rộng rãi và áp dụng trong mọi lĩnh vực, chứng minh tầm quan trọng của nó trong việc giải quyết các thách thức môi trường toàn cầu.

3.1. Khái niệm và các khả năng xử lý dữ liệu không gian của GIS

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là một hệ thống máy tính tích hợp phần cứng, phần mềm, dữ liệu địa lý và con người, nhằm mục đích thu thập, lưu trữ, quản lý, phân tích và hiển thị thông tin có liên quan đến vị trí địa lý. GIS có khả năng xử lý dữ liệu không gian mạnh mẽ, bao gồm: chuyển đổi tọa độ, chuyển đổi định dạng dữ liệu, hiệu chỉnh hình học, và các chức năng phân tích không gian tiên tiến. Cụ thể, nó có thể thực hiện truy vấn không gian, phép đo đạc, phân loại dữ liệu, chồng lớp thông tin, tạo vùng đệm (buffer zone) và nội suy dữ liệu để tạo ra các bản đồ chất lượng nước liên tục từ các điểm mẫu rời rạc. Điều này là nền tảng cho việc mô hình hóa chất lượng nướcquy hoạch môi trường nước một cách chính xác.

3.2. Vai trò của ứng dụng GIS trong giám sát và quản lý tài nguyên nước

Ứng dụng GIS trong môi trường đặc biệt quan trọng trong việc giám sát chất lượng nướcquản lý tài nguyên nước. GIS giúp các nhà quản lý phân tích các yếu tố môi trường dựa trên dữ liệu không gian môi trường từ nhiều nguồn, bao gồm cả viễn thám và chất lượng nước. Nó cho phép xây dựng bản đồ chất lượng nước thể hiện sự phân bố của các thông số chất lượng nướcchỉ số WQI trên một khu vực rộng lớn. Thông qua GIS, có thể dễ dàng theo dõi biến động chất lượng nước theo không gian và thời gian, xác định các điểm nóng ô nhiễm và nguồn thải (nguồn xác định như cống thải, hoặc nguồn không xác định như dòng chảy mặt). Điều này cung cấp thông tin trực quan và khoa học để đưa ra các chiến lược bảo vệ môi trường nước hiệu quả, hỗ trợ quy hoạch môi trường nướckiểm soát chất lượng nước thủy lợi.

IV. Quy trình kết hợp GIS WQI Hướng dẫn phân tích chất lượng nước kênh hiệu quả

Việc kết hợp Hệ thống thông tin địa lý (GIS) với Chỉ số chất lượng nước (WQI) tạo ra một phương pháp toàn diện và hiệu quả để đánh giá chất lượng nước kênh. Quy trình này cho phép không chỉ xác định mức độ ô nhiễm nước kênh mà còn hình dung được sự phân bố không gian của ô nhiễm, từ đó hỗ trợ đưa ra các quyết định quản lý và bảo vệ môi trường nước chính xác hơn.

Quy trình thực hiện bao gồm nhiều bước tuần tự. Đầu tiên là thu thập dữ liệu quan trắc các chỉ tiêu chất lượng nước tại các vị trí lấy mẫu đại diện trên kênh. Các chỉ tiêu này có thể bao gồm BOD, COD, DO, pH, TSS, Amoni, Nitrat, Phosphat, Coliform, cùng với các thông số vật lý như nhiệt độ, độ đục. Để đảm bảo tính chính xác, việc lấy mẫu, vận chuyển và lưu trữ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Tiếp theo, dữ liệu thu thập được sẽ được sử dụng để tính toán chỉ số chất lượng nước WQI. Theo hướng dẫn của Tổng cục Môi trường Việt Nam, quy trình này bao gồm việc xác định chỉ số phụ cho từng thông số, sau đó tính toán chỉ số WQI tổng hợp dựa trên công thức có trọng số. WQI sau đó được so sánh với bảng đánh giá chất lượng nước mặt để phân loại mức độ ô nhiễm (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Song song với việc tính toán WQI, các dữ liệu về vị trí lấy mẫu và kết quả quan trắc sẽ được nhập vào phần mềm GIS cho môi trường (ví dụ: ArcMap). GIS sẽ giúp xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu không gian môi trường. Từ đó, các công cụ phân tích không gian của GIS được sử dụng để nội suy dữ liệu, tạo ra các bản đồ chất lượng nướcbản đồ phân vùng ô nhiễm theo chỉ số WQI. Các bản đồ chất lượng nước này thể hiện một cách trực quan tình trạng ô nhiễm nước kênh trên toàn bộ hệ thống kênh, xác định rõ ràng các khu vực đang chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Việc tích hợp GIS và WQI không chỉ cung cấp một phương pháp đánh giá định lượng mà còn là công cụ mạnh mẽ để giám sát chất lượng nước theo thời gian thực và dự báo xu hướng biến đổi. Điều này đặc biệt hữu ích cho việc kiểm soát chất lượng nước thủy lợi và các hoạt động quy hoạch môi trường nước, đảm bảo nguồn nước được sử dụng hợp lý và bền vững.

4.1. Cách thu thập và xử lý dữ liệu chỉ tiêu chất lượng nước để tính WQI

Quá trình thu thập dữ liệu là bước đầu tiên và quan trọng trong đánh giá chất lượng nước kênh. Dữ liệu được thu thập thông qua việc khảo sát vị trí lấy mẫu và tiến hành lấy mẫu tại các điểm đại diện trên kênh, thường dựa vào lịch thủy triều để ghi nhận sự biến động (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Các chỉ tiêu chất lượng nước như pH, DO, BOD5, COD, TSS, Amoni, Phosphat và Coliform được phân tích trong phòng thí nghiệm. Sau đó, dữ liệu thô này sẽ được xử lý để tính toán chỉ số phụ (qᵢ) cho từng thông số, phản ánh mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước mặt. Việc xử lý dữ liệu cần đảm bảo độ chính xác cao để kết quả tính toán WQI là đáng tin cậy.

4.2. Xây dựng bản đồ chất lượng nước kênh bằng GIS với kết quả WQI

Sau khi chỉ số chất lượng nước WQI được tính toán cho từng điểm lấy mẫu, ứng dụng GIS trong môi trường sẽ phát huy vai trò tối đa. Dữ liệu WQI và tọa độ các điểm lấy mẫu sẽ được nhập vào phần mềm GIS cho môi trường như ArcMap. Với các công cụ phân tích không gian, GIS sẽ tiến hành nội suy dữ liệu WQI để tạo ra một bề mặt liên tục, từ đó xây dựng bản đồ chất lượng nước kênh. Các bản đồ phân vùng ô nhiễm này trực quan hóa các khu vực có chất lượng nước tốt, trung bình hay ô nhiễm nặng bằng các màu sắc khác nhau, giúp dễ dàng nhận diện và khoanh vùng các khu vực cần ưu tiên kiểm soát chất lượng nước thủy lợi. Đây là phương pháp hiệu quả để giám sát chất lượng nước và hỗ trợ quy hoạch môi trường nước.

V. Ứng dụng thực tiễn Kết quả đánh giá chất lượng nước kênh Tân Hóa Lò Gốm

Nghiên cứu điển hình về ứng dụng GIS kết hợp WQI để đánh giá chất lượng nước kênh Tân Hóa – Lò Gốm tại TP. Hồ Chí Minh đã mang lại những kết quả thực tiễn đáng chú ý. Kênh Tân Hóa – Lò Gốm là một trong những hệ thống kênh thoát nước chính của thành phố, dài khoảng 7.84 km, chảy qua nhiều quận nội thành. Mặc dù đã trải qua dự án cải tạo lớn vào năm 2015, chất lượng nước tại đây vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Kết quả phân tích chất lượng nước kênh cho thấy 7 trên 10 chỉ tiêu chất lượng nước quan trọng đều vượt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (QCVN 08-MT:2015/BTNMT – cột B2). Các chỉ tiêu này bao gồm: Amoni, TSS, DO, COD, BOD5, Coliform và Phosphat. Cụ thể, nồng độ AmoniPhosphat cao phản ánh tình trạng ô nhiễm dinh dưỡng nghiêm trọng, khả năng dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa. Chỉ số BOD5COD cao cho thấy sự hiện diện của lượng lớn chất hữu cơ dễ phân hủy, tiêu thụ lượng lớn oxy hòa tan (DO), khiến DO trong kênh thường xuyên ở mức thấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chỉ thị sinh học chất lượng nướcđa dạng sinh học thủy sinh (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Sự hiện diện của Coliform vượt ngưỡng cho phép chỉ ra tình trạng ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng, gây rủi ro cao về sức khỏe cộng đồng.

Khi tính toán WQI, chỉ số chất lượng nước của kênh Tân Hóa – Lò Gốm được xếp vào thang màu đỏ (nước ô nhiễm nặng, cần có biện pháp xử lý). Tình trạng này được ghi nhận ở cả giờ triều lên và triều xuống, cho thấy mức độ ô nhiễm nước kênh là liên tục và nghiêm trọng. So sánh với báo cáo năm 2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, kết quả này khẳng định chất lượng nước tại kênh Tân Hóa – Lò Gốm có xu hướng tái ô nhiễm (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Ứng dụng công nghệ GIS với phần mềm ArcMap đã hỗ trợ xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu các thông số quan trắc môi trường nước mặt. Từ đó, các bản đồ chất lượng nướcbản đồ phân vùng ô nhiễm theo chỉ số WQI đã được thành lập một cách trực quan, giúp các nhà quản lý tài nguyên nước và cộng đồng dễ dàng nhận diện các khu vực ô nhiễm, các nguồn thải chính và mức độ ảnh hưởng. Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giám sát chất lượng nước liên tục và việc áp dụng các giải pháp bảo vệ môi trường nước đồng bộ để cải thiện tình trạng kênh rạch đô thị. Ngoài ra, việc áp dụng mô hình hóa chất lượng nước như Streeter–Phelps cũng đã được thực hiện để đánh giá lan truyền chất ô nhiễm, cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về động thái của ô nhiễm trong kênh (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

5.1. Phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước Thực trạng ô nhiễm tại kênh

Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước tại kênh Tân Hóa – Lò Gốm đã hé lộ bức tranh đáng báo động về ô nhiễm môi trường nước. Nghiên cứu của Lê Dương Ngọc Phú (2017) chỉ ra rằng 7/10 chỉ tiêu quan trọng như Amoni, TSS, DO, COD, BOD5, Coliform, Phosphat đều vượt QCVN 08-MT:2015/BTNMT - cột B2. Cụ thể, nồng độ BOD5COD cao (ví dụ, BOD5 có thể lên đến 2.100 mg/l và COD lên đến 3.200 mg/l trước cải tạo), cho thấy sự ô nhiễm chất hữu cơ nghiêm trọng. DO thấp (thường dưới 1mg/l) là dấu hiệu của việc oxy bị tiêu thụ mạnh bởi quá trình phân hủy chất hữu cơ. AmoniPhosphat cao chỉ ra sự ô nhiễm chất dinh dưỡng từ nước thải sinh hoạt chưa được xử lý. Đặc biệt, Coliform vượt xa tiêu chuẩn (ví dụ, 13x10^6 MPN/100ml) là minh chứng rõ ràng cho ô nhiễm vi sinh vật và nguy cơ dịch bệnh.

5.2. Biến động WQI và bản đồ phân vùng ô nhiễm dựa trên dữ liệu GIS

Kết quả tính toán chỉ số WQI cho thấy chất lượng nước kênh Tân Hóa – Lò Gốm ở mức ô nhiễm nặng (thuộc thang màu đỏ) tại hầu hết các vị trí lấy mẫu, cả khi triều lên và triều xuống (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Điều này chứng tỏ sự tái ô nhiễm liên tục và rộng khắp. Bằng cách ứng dụng công nghệ GIS với phần mềm ArcMap, các bản đồ chất lượng nước đã được xây dựng, phân vùng ô nhiễm theo chỉ số WQI một cách trực quan. Các bản đồ này cho phép các nhà quản lý tài nguyên nước dễ dàng nhận diện các khu vực có WQI thấp nhất, tương ứng với mức độ ô nhiễm cao nhất, từ đó tập trung các nguồn lực và biện pháp kiểm soát chất lượng nước thủy lợi hiệu quả hơn. Đây là một công cụ mạnh mẽ trong việc giám sát chất lượng nước và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu không gian môi trường.

VI. Quản lý và bảo vệ chất lượng nước kênh Giải pháp và định hướng tương lai

Từ những kết quả đánh giá chất lượng nước kênh bằng GIS & WQI tại hệ thống kênh Tân Hóa – Lò Gốm và các nghiên cứu tương tự, việc xây dựng các giải pháp toàn diện để quản lý tài nguyên nướcbảo vệ môi trường nước là vô cùng cấp thiết. Mức độ ô nhiễm nước kênh nghiêm trọng, đặc biệt là tái ô nhiễm, đòi hỏi sự can thiệp đồng bộ từ nhiều phía. Các giải pháp này không chỉ dừng lại ở việc xử lý ô nhiễm cục bộ mà còn hướng tới quy hoạch môi trường nước dài hạn và nâng cao ý thức cộng đồng.

Một trong những giải pháp trọng tâm là kiểm soát chặt chẽ nguồn thải. Điều này bao gồm việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt cho toàn bộ khu vực dân cư dọc kênh, đảm bảo tất cả nước thải đều được xử lý đạt tiêu chuẩn chất lượng nước mặt trước khi xả ra môi trường. Đối với các cơ sở sản xuất, cần áp dụng các quy định nghiêm ngặt về xử lý nước thải công nghiệp, tăng cường giám sát chất lượng nước đầu ra và có chế tài xử phạt đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm (Lê Dương Ngọc Phú, 2017).

Ngoài ra, việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng đóng vai trò then chốt. Các chương trình truyền thông, giáo dục về tác hại của ô nhiễm nước kênh và lợi ích của việc giữ gìn chất lượng nước cần được triển khai thường xuyên. Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động giám sát chất lượng nước thông qua các ứng dụng di động hoặc cổng thông tin, góp phần vào quản lý môi trường minh bạch và hiệu quả.

Trong tương lai, việc tiếp tục ứng dụng GIS trong môi trườngchỉ số chất lượng nước WQI sẽ là trọng tâm trong giám sát chất lượng nướcquy hoạch môi trường nước. Phát triển các mô hình hóa chất lượng nước nâng cao, tích hợp dữ liệu viễn thám và chất lượng nước, sẽ giúp dự báo xu hướng biến đổi chất lượng nước kênh theo các kịch bản phát triển khác nhau. Việc xây dựng một hệ thống giám sát chất lượng nước trực tuyến kết hợp GIS và WQI sẽ cung cấp dữ liệu tức thời, hỗ trợ ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơn cho các nhà quản lý.

Cuối cùng, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp tính WQI phù hợp hơn với điều kiện đặc thù của Việt Nam, cũng như khám phá tiềm năng của chỉ thị sinh học chất lượng nước để có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe của các hệ sinh thái kênh rạch. Sự kết hợp giữa công nghệ, chính sách và sự tham gia của cộng đồng sẽ là chìa khóa để đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường nước bền vững.

6.1. Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng nước kênh

Để kiểm soát ô nhiễm nước kênh hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Đầu tiên là đầu tư vào cơ sở hạ tầng xử lý nước thải, đảm bảo 100% nước thải sinh hoạt và công nghiệp được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn chất lượng nước mặt trước khi thải ra kênh (Lê Dương Ngọc Phú, 2017). Thứ hai, tăng cường giám sát chất lượng nước định kỳ và đột xuất, áp dụng công nghệ phần mềm GIS cho môi trường để lập bản đồ chất lượng nước và xác định các điểm nóng ô nhiễm. Thứ ba, thực hiện các biện pháp nạo vét bùn, vớt rác thường xuyên trên kênh để giảm thiểu ô nhiễm chất rắn lơ lửngchất hữu cơ. Cuối cùng, cần có các chương trình nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường nước, khuyến khích phân loại rác tại nguồn và không xả thải trực tiếp vào kênh.

6.2. Triển vọng tương lai của ứng dụng GIS và WQI trong quản lý môi trường nước

Trong tương lai, ứng dụng GIS và WQI sẽ tiếp tục là công cụ chủ chốt trong quản lý tài nguyên nướcquy hoạch môi trường nước. Tiềm năng của việc tích hợp dữ liệu không gian môi trường từ viễn thám và chất lượng nước với các mô hình hóa chất lượng nước sẽ cho phép dự báo chính xác hơn về xu hướng biến đổi chất lượng nước kênh dưới tác động của biến đổi khí hậuphát triển đô thị. Việc phát triển các hệ thống giám sát chất lượng nước trực tuyến dựa trên GIS sẽ cung cấp thông tin thời gian thực, giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả. Ngoài ra, việc nghiên cứu các chỉ thị sinh học chất lượng nước kết hợp với GIS sẽ mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về sức khỏe của hệ sinh thái, từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước bền vững và toàn diện.

30/09/2025
Đồ án tốt nghiệp tên đề tài nghiên cứu ứng dụng gis kết hợp wqi đánh giá tình trạng nước mặt tại hệ thống kênh tân hóa lò gốm trên địa bàn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tài nguyên nước [6] 1. Khái niệm tài nguyên nước Theo “Thuật ngữ thuỷ văn và môi trường nước”, tài nguyên nước là lượng nước trên một vùng đã cho hoặc lưu vực, biểu diễn ở dạng nước có thể khai thác (nước mặt và nước dưới đất). Điều 2 Luật Tài nguyên nước Việt Nam (1998) quy định "Tài nguyên nước (của Việt Nam) bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ Việt Nam".

Rõ ràng, tài nguyên nước của một lãnh thổ là toàn bộ lượng nước có trong đó mà con người có thể khai thác sử dụng được, xét cả về mặt lượng và chất, cho sinh hoạt, sản xuất, trong hiện tại và tương lai. Nước là dạng tài nguyên đặc biệt. Nó vừa là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội, vừa có thể mang tai họa đến cho con người. Nước có khả năng tự tái tạo về lượng, về chất và về năng lượng.

Phân loại tài nguyên nước Theo J.Jonnes chia tài nguyên nước thành ba loại: 1. Tài nguyên tiềm năng tương lai, là toàn bộ lượng nước có trên Trái Đất mà trong điều kiện hiện nay loài người hầu như chưa có khả năng khai thác, như nước ngầm nằm rất sâu, nước trong băng tuyết hai cực, nước biển và đại dương… 2. Tài nguyên tiềm năng thực tại, là lượng nước có trong lãnh thổ, nhưng ở trạng thái tự nhiên con người khó khai thác và có nguy cơ bị nó gây hại, hoặc xảy ra rủi ro, ví dụ như nước lũ, nước ngầm nằm sâu… 3. Tài nguyên hiện thực của một vùng, là khái niệm trùng với quan điểm truyền thống hiện nay, chỉ toàn bộ lượng nước có trong các thuỷ vực mặt và ngầm mà con người dễ dàng khai thác sử dụng.

Quy luật biến động tài nguyên nước theo thời gian 1. Tính chu kỳ Theo thời gian tài nguyên nước phân phối không đồng đều. Hai chu kỳ biến động rõ nét nhất của tài nguyên nước theo thời gian là chu kỳ mùa và chu kỳ nhiều năm. 6 download by : skknchat@gmail.com Chu kỳ mùa: Chế độ nước trong các thuỷ vực tăng cao trong một số tháng liên tục (mùa lũ) và hạ thấp trong một số tháng liên tục còn lại (mùa kiệt) một cách có quy luật rõ ràng.

Cách phân mùa dòng chảy sông ngòi đơn giản nhất là theo chỉ tiêu vượt trung bình: Mùa lũ là thời kỳ không dưới hai tháng liên tiếp có lưu lượng trung bình tháng bằng hoặc vượt lưu lượng trung bình năm, với xác suất vượt trung bình không dưới 50%. Chu kỳ nhiều năm: Là sự dao động chế độ dòng chảy theo chu kỳ dài, mỗi chu kỳ có một số năm ít nước liên tiếp (pha ít nước) và một số năm nhiều nước liên tiếp (pha nhiều nước), giữa chúng có thể có một số năm chuyển tiếp với những giá trị nước trung bình. Tính ngẫu nhiên Dòng chảy là sản phẩm tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên. Khi các yếu tố ngẫu nhiên đều có tác động đáng kể tới dòng chảy thì nó sẽ mang tính ngẫu nhiên rõ rệt.

Những hiện tượng thuỷ văn, như lũ lụt, hạn hán, xảy ra theo chu kỳ, nhưng các đặc trưng định lượng của chúng, như độ lớn, thời điểm xuất hiện., lại có tính ngẫu nhiên và tuân theo một số quy luật ngẫu nhiên nhất định. Ô nhiễm môi trường nước 1. Khái niệm môi trường nước và ô nhiễm môi trường nước Môi trường nước được hiểu là môi trường mà những cá thể tồn tại, sinh sống và tương tác qua lại đều bị ảnh hưởng và phụ thuộc vào nước. Môi trường nước có thể bao quát trong một lưu vực rộng lớn hoặc chỉ chứa trong một giọt nước.

Môi trường nước là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và cả kinh [19] tế – xã hội. Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật, do sự có mặt của các tác nhân quá ngưỡng cho phép. Hiến chương Châu Âu định nghĩa: "Sự ô nhiễm nước là một sự biến đổi nói chung do con người gây đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại đối với việc sử dụng của con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi - giải trí, cũng như đối với các động vật nuôi, các loài hoang dại". 7 download by : skknchat@gmail.

Nguồn gốc ô nhiễm môi trường nước Sự ô nhiễm nước có thể có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo: Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do nhiễm mặn, nhiễm phèn, gió, bão, lũ lụt. Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố đô thị khu công nghiệp, kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cả các xác chết của chúng. Sự ô nhiễm này còn gọi là ô nhiễm không xác định được nguồn. Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các phân bón trong nông nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông vận tải đường biển.

Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm người ta phân biệt ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm vi sinh vật, cơ học hay vật lý (ô nhiễm nhiệt hoặc do các chất lơ lững không tan), ô nhiễm phóng xạ. Theo vị trí người ta phân biệt: ô nhiễm sông, ô nhiễm hồ, ô nhiễm biển, ô nhiễm mặt nước, ô nhiễm nước ngầm. Theo nguồn gây ô nhiễm người ta phân biệt: Nguồn xác định: là các nguồn thải chúng ta có thể xác định được ví trí chính xác như cống thải nhà máy, khu công nghiệp, đô thị. Nguồn không xác định: là các chất gây ô nhiễm phát sinh từ những trận mưa lớn kéo theo bụi bẩn, xói mòn đất đai,.

và là nguồn những chất thải không thể xác định được gây ra như nước mưa chảy qua các khu dân cư, các cánh đồng đã bị ô nhiễm. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước Có rất nhiều tác nhân gây ô nhiễm nước, tuy nhiên để tiện lợi cho việc quan trắc và khống chế ô nhiễm nguồn nước, ta có thể phân chúng thành các nhóm cơ bản: Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học hoặc các chất tiêu thụ oxy: thuộc loại này có cacbohydrat, protein, chất béo,. Đây là các chất gây ô nhiễm phổ biến nhất có trong nước thải từ các khu dân cư, khu công nghiệp chế biến thực phẩm. 8 download by : skknchat@gmail.com Các chất hữu cơ bền vững: polychlorophenol (PCPs), polychlorobiphenyl (PCB), các hydrocacbon đa vòng,.

Các chất này thường có trong nước thải công nghiệp và nguồn nước chảy tràn qua các vùng nông, lâm nghiệp có sử dụng nhiều thuốc trừ sâu. Đây là các chất có độc tính cao đối với con người và sinh vật. Các kim loại nặng: Hầu hết các kim loại nặng đều có độc tính cao đối với con người và các loại động vật có vú, lưỡng thê, bò sát, chim và tôm cá. Các kim loại nặng thường có trong nước thải công nghiệp là chì (Pb), thủy ngân (Hg), crôm (Cr), cadimi (Cd), asen (As), mangan (Mn).

Các chất vô cơ: Nhiều ion vô cơ có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên, đặc biệt là nước biển. Trong nước thải từ các khu dân cư luôn có nồng độ tương đối cao - 2- 3- + + các ion Cl , CO3 , PO4 , Na , K. Dầu mỡ: Là chất lỏng khó tan trong nước. Độc tính và tác động sinh thái của dầu mỡ phụ thuộc vào từng loại dầu.

Hầu hết các loài thực, động vật đều bị tác hại bởi dầu mỡ. Các loài thủy sinh và cây ngập nước dễ bị chết do dầu mỡ ngăn cản quá trình hô hấp, quang hợp và cung cấp chất dinh dưỡng. Các chất phóng xạ: Trong môi trường luôn có một lượng phóng xạ tự nhiên do hoạt động của con người hoặc từ các nguồn đất đá, núi lửa tạo nên. Các sự cố phóng xạ có khả năng gây tác hại nghiêm trọng đến con người và sinh vật chủ yếu do nổ hoặc rò rỉ các lò phản ứng nguyên tử.

Các sinh vật gây bệnh: Bao gồm vi trùng, siêu vi trùng, giun sán. Nguồn nước ô nhiễm do phân có thể có nhiều loại vi trùng, siêu vi trùng (virus), động vật đơn bào (Protozoa) và trứng giun sán gây bệnh. Các chất có mùi: Nước có mùi là do các nguyên nhân sau: có chất hữu cơ từ cống rãnh khu dân cư, xí nghiệp chế biến thực phẩm; nước thải công nghiệp, hóa chất; sản phẩm từ sự phân hủy cây cỏ, rong tảo, động vật. Ngoài ra còn có các chất rắn và khí hòa tan cũng là tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường nước.

Các tiêu chuẩn, chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước hay mức độ ô nhiễm nước Để xác định chất lượng nước hay mức độ ô nhiễm nước, người ta dùng các thông số chất lượng nước: Các thông số vật lý: nhiệt độ, màu, mùi vị, độ dẫn điện, độ phóng xạ,.có thể được xác định bằng định tính hoặc định lượng. 9 download by : skknchat@gmail.com Các thông số hoá học: Chỉ số pH (độ axit hoặc độ kiềm), lượng chất lơ lửng, các chỉ số BOD, COD, Oxy hoà tan (DO), Dầu mỡ, Clorua, Sunphat, Amôn, Nitrit, Nitrat, Phosphate, Các nguyên tố vi lượng, Kim loại nặng, Thuốc trừ sâu, Các chất tẩy rửa và nhiều loại chất độc khác. Các thông số sinh học: Coliform, Fecal streptococus, tổng số vi khuẩn hiếu khí, kỵ khí và các sinh vật gây bệnh. Để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước, người ta thường dùng các chỉ tiêu hay thông số phổ biến là: Chất rắn lơ lửng (SS - Suspended Solids): Là các chất không tan trong nước và được xác định bằng cách lọc một mẫu nước qua giấy lọc tiêu chuẩn.

Cặn thu o được trên giấy lọc sau khi sấy ở nhiệt độ 105 C cho đến khi khối lượng không đổi thì đem cân xác định khối lượng - đó được được gọi là lượng chất lơ lửng trong mẫu nước phân tích. Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD - Biochemical Oxygen Demand): Là lượng oxy cần thiết để oxy hoá (bởi vi sinh vật hiếu khí) các chất bẩn hữu cơ trong nước trong một khoảng thời gian xác định. Nó đặc trưng cho lượng chất hữu cơ dễ bị phân huỷ bởi các vi sinh vật hiếu khí. Thông thường đối với nước thải sinh hoạt, để phân huỷ hết các chất bẩn hữu cơ đòi hỏi thời gian 20 ngày - BOD20 hay BOD toàn phần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ