Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá, xếp loại công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng đánh giá, xếp loại chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện đánh giá, xếp loại chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Công chức Nhiều quốc gia quan niệm công chức là những nhân viên công tác, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách, bị quy định bởi quy chế hoặc luật công chức, là ngƣời làm việc trong hệ thống chính quyền nhà nƣớc.
Công chức là bộ phận rất quan trọng trong nền hành chính quốc gia. Tuy nhiên, do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nƣớc ta nên quan niệm về công chức ở Việt Nam cũng có đặc thù. Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII, đã thông qua Luật cán bộ, công chức. Tại khoản 2 Điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp xã; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội”.[8] Theo Luật số 52/2019/QH14 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp xã; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc 11 phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.2 Công chức cấp xã Khái niệm công chức cấp xã đƣợc quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”.[8] Về cơ bản, công chức xã đƣợc hiểu là là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ Ngân sách Nhà nƣớc và những khoản phụ cấp khác từ quỹ lƣơng của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật.
Theo Luật Cán bộ Công chức 2008; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011; Nghị định 34/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2019 quy định chức vụ, chức danh cán bộ công chức cấp xã bao gồm: * Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: - Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng uỷ; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; - Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Bí thƣ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phƣờng, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngƣ, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); 12 - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.[10][13] * Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: - Trƣởng Công an; - Chỉ huy trƣởng Quân sự; - Văn phòng - thống kê; - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tƣ pháp - hộ tịch; - Văn hóa - xã hội. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô, đặc điểm của từng địa phƣơng, Chính phủ quy định cụ thể số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã. Chất lượng công chức cấp xã Theo từ điển tiếng việt thì “Chất lƣợng” hiểu ở nghĩa chung nhất là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con ngƣời, sự vật, sự việc” [17, tr 103]. Tuy nhiên, chất lƣợng công chức không hoàn toàn giống với chất lƣợng của các loại hàng hóa, dịch vụ, bởi con ngƣời là một thực thể phức tạp.
Hơn nữa, mỗi công chức không thể tồn tại biệt lập mà phải đƣợc đặt trong mối quan hệ với cả tập thể. Chất lƣợng đội ngũ công chức đƣợc tạo nên bởi rất nhiều nhân tố, bao gồm số lƣợng, cơ cấu, cấu trúc bộ máy, cơ chế tổ chức, phƣơng thức quản lý và lãnh đạo… Chất lƣợng của đội ngũ công chức đƣợc cấu thành từ chất lƣợng của mỗi ngƣời công chức. Đó là trình độ đƣợc đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ qua trƣờng lớp, có kiến thức văn hoá và giao tiếp, có phẩm chất chính trị, tƣ tƣởng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực tổ chức và điều hành bộ máy, đồng thời đƣợc biểu hiện ở hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản 13 lý tại các đơn vị nhà nƣớc, ở uy tín của họ trƣớc tập thể và nhân dân… Tuy nhiên, mỗi vị trí có yêu cầu chất lƣợng ở mức độ chuyên sâu khác nhau. Nhƣng nhìn chung ở bất cứ cƣơng vị và lĩnh vực nào thì yêu cầu về phẩm chất chính trị của công chức phải đƣợc đặt lên hàng đầu.
Phẩm chất đạo đức là cái gốc và trình độ chuyên môn, kiến thức văn hoá, năng lực của cá nhân là nhân tố quyết định đến hiệu quả công tác của ngƣời. Chất lƣợng hoạt động quản lý hành chính nhà nƣớc cấp xã chính là chất lƣợng của đội ngũ công chức làm việc trong các đơn vị cấp xã. Do vậy, khi nói đến chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã là nói đến tổng thể những phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, sức khỏe của ngƣời công chức đang làm việc tại các đơn vị cấp xã, những phẩm chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả thực hiện công việc của họ, cụ thể hơn là thực hiện những nhiệm vụ mà họ đƣợc cấp có thẩm quyền phân công. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã là: “tập hợp tất cả những đặc điểm, thuộc tính của từng công chức cấp xã phù hợp với cơ cấu, đáp ứng đƣợc yêu cầu theo nhiệm vụ và chức năng của cơ quan, đơn vị, đồng thời là tổng hợp những mối quan hệ giữa các cá nhân công chức cấp xã với nhau; sự phối kết hợp hoạt động trong thực thi nhiệm vụ chung nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu chung một thời điểm nhất định của địa phƣơng”.
Nói đến chất lƣợng từng công chức cấp xã đƣợc biểu hiện cụ thể thông qua tình trạng sức khỏe để làm việc; tiếp đến là chất lƣợng lao động, khả năng triển khai, hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao; thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân trong thực thi công việc; trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị; khả năng thích ứng với điều kiện cải cách hành chính đang diễn ra ngày càng sâu rộng nhƣ hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn hội nhập quốc tế. Đánh giá, xếp loại chất lượng công chức cấp xã Đánh giá công chức cấp xã là một nội dung quan trọng trong quản lý nhân sự hành chính nhà nƣớc. Đánh giá công chức bao gồm đánh giá con ngƣời (bản thân công chức) và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của họ. Đánh giá con ngƣời bao gồm các nội dung nhƣ: trình độ, quá trình đào tạo, kinh nghiệm, tính cách, thói quen, phẩm chất, tiềm năng phát triển… Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ là đánh giá tập trung vào kết quả công việc mà ngƣời công chức đảm nhiệm (công vụ), lấy kết quả thực hiện làm căn cứ chính để đánh giá, tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình (sản phẩm cụ thể) chứ không phải là các hoạt động.
Có nhiều nội dung đánh giá khác nhau đối với công chức nhƣ: Đánh giá hiệu quả làm việc; Đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ; đánh giá kỹ năng; Đánh giá tiềm năng; Đánh giá động cơ làm việc; Đánh giá phẩm chất, đạo đức công vụ. Trong đánh giá công chức cấp xã có ba yếu tố quan trọng nhất là chủ thể, tiêu chí và phƣơng pháp đánh giá. Chủ thể đánh giá công chức là cơ quan, tổ chức, ngƣời có thẩm quyền thực hiện. Các tiêu chí đánh giá thể hiện là các tiêu chuẩn, dấu hiệu phản ánh phẩm chất nhất định, kết quả công việc của công chức phù hợp với mục tiêu đánh giá hƣớng tới.
Các phƣơng pháp đánh giá thể hiện là các cách thức đƣợc cơ quan, tổ chức, ngƣời có thẩm quyền sử dụng để xác định đúng đắn phẩm chất, kết quả thực hiện công việc của cán bộ, công chức. Từ những trình bày trên đây, có thể nêu khái niệm đánh giá cán bộ, công chức nhƣ sau: “Đánh giá xếp loại công chức là hoạt động do chính quyền cấp xã và ngƣời có thẩm quyền bằng các phƣơng pháp nhất định đo 15 lƣờng và phân loại năng lực công chức theo các tiêu chí nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định”. Đánh giá công chức cấp xã có các đặc điểm sau đây: Một là, đánh giá công chức cấp xã phải gắn kết với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức. Vì trong hệ thống chính trị nƣớc ta tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, mỗi cơ quan, đơn vị ở mỗi cấp có các nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm riêng.
Hai là, đánh giá công chức là đánh giá đối tƣợng liên quan đến năng lực và phẩm chất thực hiện công việc, nhiệm vụ đƣợc giao.