CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò tạo động lực làm việc cho người lao động 1.1 Khái niệm tạo động lực làm việc 1.1 Khái niệm động lực Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực của một tổ chức có vai trò rất quan trọng, chúng là nhân tố quyết định sự thành bại trong các hoạt động của tổ chức. Vấn đề tạo động lực cho nhân viên là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc và nâng cao năng suất làm việc. Có nhiều những quan niệm khác nhau về động lực như: Theo từ điển tiếng việt: Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển.
Theo Mitchell ông cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” (Mitchell 1999, tr. 418) Hay động lực: “là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực được biểu hiện qua sự nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đưa ra cũng như bản thân người lao động” (Nguyễn Hữu Thân 2003, tr. Trong nội dung luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm động lực của TS.
Nguyễn Hữu Thân. * Động lực làm việc Có nhiều khái niệm khác nhau về động lực lao động, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau tuy nhiên đều có những điểm chung cơ bản nhất: Theo giáo trình Quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Văn Điềm – PGS, TS Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của 5 người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” (Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân 2007, tr. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của TS.
Bùi Anh Tuấn: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” (Bùi Anh Tuấn 2009, tr. Theo quan điểm của TS. Nguyễn Hữu Thân: “Động lực lao động là sự khát khao tự nguyện của người lao động để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Hữu Thân 2003, tr.
Từ những định nghĩa trên, có thể đưa ra một cách hiểu chung về động lực lao động như sau: động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Khi người lao động có động lực thì họ sẽ làm việc hết khả năng của mình, họ sẽ cố gắng đạt được những gì mình muốn dù là thăng tiến trong công việc hay tăng thu nhập, đảm bảo cuộc sống gia đình, cải thiện đời sống vật chất hàng ngày các hoạt động. Vì vậy, mục tiêu của các nhà quản lý là tạo động lực để nhân viên có thể làm việc hiệu quả nhất có thể để phục vụ tổ chức. Bản chất của động lực làm việc được thể hiện qua nhiều khía cạnh: Thứ nhất, động lực gắn liền với công việc, tổ chức và môi trường làm việc.
Công việc có thể khác nhau ở các tổ chức khác nhau, tạo ra môi trường làm việc khác nhau. Từ đó, người lao động có động lực làm việc hiệu quả hơn, đạt năng suất cao hơn. Thứ hai, động lực làm việc không phải là đặc tính của mỗi cá nhân. Động lực làm việc ở đây là động lực thúc đẩy cả tập thể làm việc hiệu quả, của một tập thể hiệu quả mà còn của những cá nhân muốn cống hiến hết mình cho tập thể, đoàn kết để xây dựng kết quả cao trong công việc.
6 Thứ ba, động lực làm việc là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến tăng năng suất và hiệu quả công việc. Nếu nhân viên có động lực làm việc, họ sẽ cố gắng hết sức để đóng góp cho tổ chức. Thứ tư, những người lao động không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc của mình. Dù thế nào đi chăng nữa, người lao động luôn cố gắng hoàn thành công việc được giao vì đó là yêu cầu tối thiểu đối với công việc.
Chỉ khi họ có động lực làm việc thì công việc của họ mới hiệu quả hơn những gì nhà quản lý mong đợi. * Động lực vật chất: Là sự kích thích người lao động làm việc hiệu quả hơn trên cơ sở khuyến khích lợi ích vật chất thông qua tiền lương, áp dụng các hình thức trả lương sản phẩm thưởng, các hình thức tiền thưởng, phần thưởng, phụ cấp, … * Động lực tinh thần: Là sự kích thích người lao động làm việc hiệu quả hơn trên cơ sở khuyến khích lợi ích tinh thần thông qua biểu dương khen thưởng, tôn vinh, tổ chức các phong trào thi đua, xây dựng bầu không khí làm việc lành mạnh, đoàn kết trong tập thể lao động, tạo cơ hội học tập, cơ hội thăng tiến,… 1. Khái niệm tạo động lực làm việc Trong sản xuất kinh doanh, để đạt được hiệu quả và năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng phải có đội ngũ nhân sự đủ mạnh. Bên cạnh trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động.
Để nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc cần có những biện pháp tạo động lực hiệu quả. Có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực làm việc, tuy nhiên cách tiếp cận chung nhất thì công tác tạo động lực làm việcđược hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Công tác này là trách nhiệm và mục tiêu của các nhà quản lý doanh nghiệp. Một khi người 7 lao động có động lực làm việc, thì sẽ phát huy khả năng, tiềm năng của bản thân, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác.
Vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp Động lực làm việc là yếu tố bên trong người lao động, có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và hiệu quả thực hiện công việc. Doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu đề ra thì việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động là hết sức cần thiết. Để làm được điều này, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều biện pháp, giải pháp khác nhau trong đó tạo động lực lao động là một trong những giải pháp quan trọng, mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động nó thể hiện: - Thúc đẩy nâng cao hiệu quả công tác của công ty: Khi công ty thực hiện tốt các chính sách tạo động lực cho người lao động, người lao động có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng, tiềm năng để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Đồng thời, khi năng suất lao động và hiệu quả làm việc cá nhân của người lao động được nâng cao, sẽ làm giảm thời gian, các chi phí quản lý và sử dụng nhân lực.
Do đó, nó sẽ thúc đẩy nâng cao hiệu quả công tác của công ty. - Nâng cao đời sống người lao động: Khi người lao động hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, thì người lao động nhận được tiền lương, tiền thưởng hoặc các phụ cấp, phúc lợi cao hơn, hoặc có cơ hội thăng tiến, phát triển,. do đó đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người lao động. - Gắn bó người lao động lâu dài với doanh nghiệp: Khi tạo động lực lao động tốt, người lao động được đảm bảo đời sống vật chất và đời sống tinh thần, thì họ cũng sẽ có sự thỏa mãn cao với công việc đang làm, từ đó làm việc với trạng thái tâm lý vui vẻ, thích thú, gắn bó với công việc, gắn bó lâu dài với tổ chức, không ngừng cố gắng phấn đấu nỗ 8 lực học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu tìm tòi sáng tạo ra những phương pháp, cách thức thực hiện công việc một cách có hiệu quả, nâng cao thời gian tác nghiệp thực hiện công việc, sử dụng hiệu quả thời gian làm việc.
- Xây dựng thương hiệu công ty: Khi tạo động lực lao động tốt, sẽ kích thích người lao động tích cực trong công việc để đạt được những mức năng suất lao động cao hơn, có thể thực hiện những công việc phức tạp hơn. Động lực này cũng thúc đẩy họ tích cực học tập, rèn luyện bản thân, nâng cao kỹ năng, khả năng làm việc. Điều này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, giúp các tổ chức có thể đạt được những mục tiêu chiến lược khi chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao. Khi mà chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thị trường, sẽ được khách hàng tin tưởng, sử dụng, chứng tỏ doanh nghiệp công tác ngày càng hiệu quả và phát triển.
Do đó, thương hiệu của doanh nghiệp được khẳng định trên thị trường, và như vậy, doanh nghiệp có nhiều cơ hội để phát triển hơn. Các lý thuyết có liên quan Qua nghiên cứu các lý thuyết về động lực làm việc của nhân viên, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát hơn về động lực trong công việc cũng như quá trình tạo ra nó. Có rất nhiều lý thuyết về động lực làm việc, mỗi lý thuyết đều có những giá trị nhất định và không có lý thuyết nào là hoàn hảo, tuy nhiên, bằng cách xem xét những mặt tích cực và tiêu cực của các lý thuyết, bằng cách này, người quản lý sẽ tìm ra cách riêng để tạo động lực cho nhân viên. Dưới đây là một số học thuyết điển hình: 1.
Hệ thống nhu cầu của Maslow Trên thực tế học thuyết về tạo động lực được biết đến nhiều nhất là học thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow. Thuyết của Maslow về phát triển và tạo động lực cá nhân được xuất bản năm 1943, chỉ ra một số điểm 9 hữu ích. Theo ông thì con người có năm loại nhu cầu khác nhau và các nhu cầu đó được xắp xếp theo thứ bậc.1: Tháp nhu cầu của Maslow - Các nhu cầu sinh lý: Những nhu cầu này nằm ở dưới cùng của hệ thống phân cấp.