Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CHO ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT ĐAI HUYỆN CẨM MỸ 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu biến động sử dụng đất theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên phục vụ phát triển bền vững. Việc phân tích biến động sử dụng đất chủ yếu là phân tích mối quan hệ giữa con người và đất đai.
Sử dụng đất thay đổi do đâu? khi nào? như thế nào? và ở đâu? Để có thể tìm ra câu trả lời tổng quan có tính liên kết cho các câu hỏi này, trên thế giới đã có rất nhiều lý thuyết được nâng cao và mô hình được xây dựng trong vòng 200 năm qua. Vai trò của hệ thống lý thuyết truyền thống rất quan trọng với việc xác định các xu hướng biến động sử dụng đất. Một số lý thuyết chú trọng nhấn mạnh về tính kinh tế, một số khác quan tâm tới khía cạnh chính trị - xã hội trong khi không ít lý thuyết đề cập tới vấn đề môi trường trong biến động sử dụng đất. Xu hướng chủ yếu gần đây là tìm ra một hệ thống lý thuyết tổng hợp hơn nữa, mặc dù sự ảnh hưởng của “quy luật bản địa” vẫn còn mạnh mẽ trong hầu hết mọi trường hợp.
Sự đa dạng của các trường hợp biến động sử dụng đất xảy ra trên thế giới cho thấy: thật khó để có được một hệ thống lý thuyết chung áp dụng cho mọi trường hợp. Các mô hình đánh giá mô tả, dự đoán, nêu lên nguyên lý và tác động của sự biến động sử dụng đất đã được xây dựng cho các khu đô thị, thành phố, khu vực, quốc gia cũng như toàn cầu nói chung. Với từng mục đích và đối tượng khác nhau, mức độ tập hợp chức năng và không gian của các mô hình cũng được áp dụng khác nhau. Mặc dù có sự đa dạng, song các mô hình phần lớn đều chỉ định dạng những chức năng đơn giản như mô hình lập trình thống kê hoặc tuyến tính hay áp dụng các kỹ thuật phỏng đoán (mô phỏng).
Đặc biệt gần đây, các mô hình được sử dụng ngày càng nhiều kết hợp với những tiến bộ đạt được của GIS nhằm hướng tới mô hình không gian trong nghiên cứu nguyên nhân và những thay đổi của việc sử dụng đất. Tuy nhiên, một trong những trở ngại chính cho việc áp dụng các mô hình như vậy là: khả năng về dữ liệu (chất lượng, thông số kỹ thuật, khả năng cập nhật, chuyển đổi dữ liệu và chi phí ). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế giới Một số nghiên cứu biến động sử dụng đất trên Thế Giới: + Nghiên cứu biến động sử dụng đất và thay đổi khí hậu (Climate and land use change) – Cục nghiên cứu địa chất Hoa Kỳ. + Nghiên cứu lịch sử sử dụng đất khu vực Bắc Mỹ (Land use history of North America) – Biological Resources Discipline và NASA hợp tác nghiên cứu.
+ Mô hình biến động sử dụng đất ở khu vực thủ đô Boston (Modeling Land Use Change in the Boston Metropolitan Region). + Nghiên cứu biến động sử dụng đất ở các nước đang phát triển (Land Use Change in Developing Countries) – Công trình nghiên cứu của Đại học Havard. + Giám sát và dự đoán biến động sử dụng đất đô thị (Mornitoring and Predicting Urban Land Use Change) – Công trình nghiêu cứu của Đại học Maryland, Hoa Kỳ. + Phân tích biến động sử dụng đất đô thị và ảnh hưởng của nói tới an ninh lương thực ở các thành phố Châu Á của bốn nước đang phát triển sử dụng mô hình Modified CA (Analysis on Urban Land – Use Changes Countries Using Modified CA Model)- Công trình nghiên cứu của Đại học Nam Kinh, Trung Quốc.
Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu biến động sử dụng đất phần lớn mới chỉ dừng ở việc các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh hoặc thành phố) điều tra thống kê biến động hàng năm theo quy định của nhà nước. Hầu hết các huyện đều đã tổng hợp được kết quả thống kê biến động dưới dạng số theo phần mềm TK05 phiên bản 2.0 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong khi một số huyện khả năng sử dụng máy vi tính của cán bộ còn hạn chế nên chất lượng đảm bảo chưa cao. Những huyện như vậy đã phối kết hợp chặt chẽ với cấp tỉnh để nâng cao chất lượng thông tin. Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên về vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy chưa có công trình riêng biệt nghiên cứu cho định hướng khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai liên quan tới huyện Cẩm Mỹ, nhưng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng có nhiều đề án đang được nghiên cứu có liên quan đến huyện Cẩm Mỹ như: Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch phát triển nghành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, có tính đến năm 2025; Dự án khu công nghệ cao chuyên nghành công nghệ sinh học tỉnh Đồng Nai. CƠ SỞ LÝ LUẬN SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT ĐAI 1. Các vấn đề liên quan tới nghiên cứu, đánh giá hiện trạng, biến động và quy hoạch sử dụng đất. a) Hiện trạng sử dụng đất và các vấn đề liên quan Trong vài thế kỷ trở lại đây, dân số thế giới tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu về lương thực, thực phẩm.
Các cuộc cách mạng về kinh tế và kỹ thuật … có nhịp độ phát triển nhanh chóng là nguyên nhân dẫn đến việc tàn phá môi trường tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai.Việt Nam có diện tích tự nhiên 33.159 ha, đứng thứ 55/200 quốc gia. Là nước có quy mô diện tích thuộc loại trung bình; dân số 88 triệu người, đứng thứ 12/200 quốc gia, vì vậy bình quân diện tích đất trên đầu người vào loại thấp 3.800 m2/người (0,3-0,4 ha/người), đứng thứ 120/200 quốc gia trên thế giới, bằng mức 1/6 bình quân thế giới. Vì vậy, tình trạng sử dụng đất đai ở nước ta cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự gia tăng dân số - nhu cầu lương thực và các yêu cầu thiết yếu khác trong nhiều thập kỷ qua. Nhiều khu vực tài nguyên đất đai bị suy thoái một cách nghiêm trọng bởi việc phá rừng và khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản hoặc tình trạng đô thị hoá nhanh chóng gia tăng.
Đánh giá tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 chúng ta nhận thấy bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì việc sử dụng đất vẫn có những biểu hiện thiếu bền vững như sau: - Đối với khu vực đất nông nghiệp: Mặc dù đã tập trung thực hiện việc dồn điền, đổi thửa thành công ở nhiều nơi nhưng nhìn chung thửa đất nông nghiệp còn quá nhỏ, toàn quốc còn tới 70 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có từ 3 - 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 thửa, do đó canh tác manh mún, chưa tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Chưa có sự đầu tư để sử dụng đạt hiệu quả cao đối với 1.529 ha đất nương rẫy, việc sử dụng đất chưa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa. Việc chuyển một bộ phận đất chuyên trồng lúa cho mục đích phát triển công nghiệp và dịch vụ chưa được cân nhắc một cách tổng thể đang là vấn đề cần chấn chỉnh. Cần cân nhắc hiệu quả đầu tư cả về hiệu quả kinh tế lẫn xã hội và môi trường, khuyến khích đầu tư hạ tầng cơ sở để chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, hạn chế việc tận dụng hạ tầng hiện có tại các vùng đất nông nghiệp có năng suất cao để đầu tư công nghiệp và dịch vụ.
Tuy diện tích rừng tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá và suy giảm chất lượng ở nhiều nơi, mức độ phục hồi chậm; nơi có nhiều đất có thể trồng rừng thì mật độ dân cư thưa, hạ tầng quá thấp kém. Trong thời gian 4 năm 2001 - 2004, diện tích rừng bị cháy, chặt phá là 34.821 ha, trong đó rừng bị cháy là 23.500 ha (tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long với 12.884 ha; Tây Bắc và Đông Bắc với 5.524 ha), rừng bị chặt phá là 11.320 ha (tập trung ở Tây Nguyên với 4.206 ha, Đông Nam bộ với 2. Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện các dự án đầu tư phi nông nghiệp chưa giải quyết được quyền lợi, việc làm, ổn định tại khu vực nông thôn. Nhiều nơi trao cho người nông dân tiền bồi thường, hỗ trợ về đất khá cao nhưng không định hướng được phương thức sử dụng nên đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong sử dụng.
- Đối với đất phi nông nghiệp: đất dành cho đầu tư hạ tầng kỹ thuật chưa thực sự được chú ý trong quy hoạch dài hạn. Đặc biệt, đầu tư hạ tầng cho khu vực nông thôn còn thiếu nên chưa bảo đảm điều kiện để giải quyết xoá đói, giảm nghèo thực sự cho người nông dân. Vấn đề đất ở, nhà ở đang là khâu yếu và có nhiều vướng mắc hiện nay, đặc biệt là nạn đầu cơ đất ở, đất dự án nhà ở kéo dài trong nhiều năm, mặc dù gần đây đã được chấn chỉnh nhưng hậu quả để lại khá nặng nề, nhất là giá đất vẫn còn ở 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức cao làm hạn chế những cố gắng về nhà ở, đất ở. Nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ còn có tình trạng đất ở, đất nghĩa địa, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chưa được quy hoạch, vẫn còn phân bố rải rác, xen kẽ giữa các cánh đồng và trong khu dân cư, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, khó nâng cấp đời sống cho người nông dân trong khu dân cư nông thôn với hạ tầng đồng bộ.
Quỹ đất dành cho xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao chưa được quy hoạch đầy đủ, chưa thực hiện đúng các chính sách ưu đãi về đất cho các nhà đầu tư thuộc các lĩnh vực này.