Đặt vấn đề Theo quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới, đa dạng sinh học là sự phồn thịnh cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng sống. Đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới đã và đang suy giảm một cách nhanh chóng. Trƣớc tình hình đó thế giới có nhiều nỗ lực nhằm hạn chế sự suy giảm đó, cụ thể là có nhiều công ƣớc liên quan đến bảo vệ đa dạng sinh học đã ra đời nhƣ Công ƣớc RAMSAR, Iran (1971), Công ƣớc CITES (1972), Công ƣớc Paris (1972), Công ƣớc bảo vệ các loài động vật di cƣ, Born (1979). Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới, hiện tƣợng làm mất các hệ sinh thái tự nhiên và các loài sinh vật vẫn đang hàng ngày, hàng giờ xảy ra.
Mỗi năm, trái đất mất đi khoảng 2000 loài động vật, thực vật, nghĩa là mất đi hơn 10% số loài đã đƣợc mô tả. Nếu nhƣ các thế kỷ trƣớc đây bình quân cứ vài chục năm mới có một loài bị tuyệt chủng, những năm gần đây, ngƣời ta tính ra rằng cứ bình quân 7 phút có một loài bị tuyệt chủng. Theo báo cáo về quan trắc môi trƣờng nƣớc của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong số 10 quốc gia giàu đa dạng sinh học nhất trên thế giới, với sự có mặt của 10% số loài đƣợc biết đến, trong khi diện tích lãnh thổ chỉ chiếm chƣa đến 1% diện tích trái đất. Trong các hệ sinh thái trên cạn, thống kê và xác định đƣợc trên 13.200 loài thực vật, khoảng 10.000 loài động vật.
Trong các vùng đất ngập nƣớc nội địa, đã xác định đƣợc trên 3.000 loài thuỷ sinh vật. Môi trƣờng biển với 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù, đặc trƣng cho biển nhiệt đới và là môi trƣờng sống của trên 11.000 loài sinh vật biển. Khoảng hai thập kỷ gần đây, rất nhiều loài động, thực vật mới đƣợc phát hiện và mô tả, trong đó có nhiều chi và loài mới cho khoa học, đặc biệt là các loài thú và các loài cây thuộc họ lan. Hiện nay nhiều loài động, thực vật mới vẫn đƣợc tiếp tục phát hiện và công bố ở Việt Nam.
1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Tuy nhiên, do sự phát triển kinh tế nhanh, Việt Nam đang gặp phải sự suy giảm đáng kể về diện tích các khu cƣ trú tự nhiên, dẫn tới sự giảm số lƣợng, thậm chí tuyệt chủng một số loài. Trong những năm gần đậy, hàng loạt báo cáo đã ghi nhận sự biến mất của các loài động, thực vật bị đe dọa toàn cầu ở Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học là một vấn đề cấp thiết đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vƣờn quốc gia Xuân Thủy là khu bảo tồn dự trữ sinh quyển đất rừng ngập mặn.
Vƣờn nằm ở phía Đông Nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay tại cửa Ba Lạt của sông Hồng. Khu vực vùng lõi của vƣờn là diện tích đất ngập mặn trên ba cồn cát cửa sông là cồn Ngạn, cồn Lu và cồn Xanh thuộc xã Giao Thiện. Toàn bộ vùng đệm và vùng lõi của Vƣờn nằm trên địa phận các xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải. Diện tích toàn bộ vƣờn khoảng 7.100 ha diện tích đất nổi có rừng và 4.000 ha đất rừng ngập mặn.
Đây là rừng ngập mặn đầu tiên ở Việt Nam đƣợc quốc tế công nhận theo công ƣớc Ramsar, rừng ngập mặn thứ 50 của thế giới. Về mặt đa dạng sinh học, Vƣờn Quốc Gia Xuân Thuỷ có 14 kiểu sinh cảnh, bao gồm các sinh cảnh tự nhiên và sinh cảnh nhân tạo (Pedersen và Nguyễn Huy Thắng 1996). Sinh cảnh có giá trị đa dạng sinh học cao nhất là các bãi bồi và rừng ngập mặn tự nhiên ít bị tác động. Trong những năm gần đây việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội dẫn đến nhiều diện tích rừng ngập mặn nguyên sinh bị suy thoái, làm cho năng suất, sản lƣợng và chủng loại các loài, cá thể sinh vật trong vùng giảm nhanh, đến nay có những khu vực đã bộc lộ sự suy thoái rõ rệt, nhiều loài thực vật bản địa đang có nguy cơ biến mất.
Hơn nữa, các đảo cát trong Vƣờn có các đầm nƣớc mặn và các đụn cát cũng đang đƣợc trồng loài phi lao nhập nội sẽ làm thu hẹp các sinh cảnh tự nhiên trong khu vực. Các nhân tố khác ảnh hƣởng tới công tác bảo tồn ở Xuân Thuỷ là việc tăng cƣờng đắp các đầm nuôi trồng thuỷ sản có thể làm chết các loài thực vật hiện có. 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc Gia Xuân Thủy -Nam Định” 2. Mục tiêu nghiên cứu - Phân loại thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu hiện trạng và những đặc trƣng cơ bản của thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu: Thành phần loài, dạng sống, công dụng và các loài thực vật quý hiếm - Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính đa dạng thực vật ở KVNC - Đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển thực vật trong khu vực nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu - Đề tài đƣợc thực hiện từ năm 2013 đến năm 2014 tại khu vực VQG Xuân Thủy -Nam Định. - Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hiện trạng, một số đặc trƣng cơ bản của hệ thực vật và một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính đa dạng thực vật tại VQG Xuân Thủy. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển thực vật trong khu vực nghiên cứu. Đóng góp mới của luận văn - Bƣớc đầu phân loại đƣợc thảm thực vật và những đặc trƣng cơ bản của hệ thực vật tại VQG Xuân Thủy - Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triể g thực vật u.
3 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm có liên quan 1. Đa dạng sinh học Theo công ƣớc về Đa dạng sinh học năm 1992 thì "Ða dạng sinh học" có nghĩa là tính (đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thuỷ vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần. Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học. Có thể coi, thuật ngữ "đa dạng sinh học" lần đầu tiên đƣợc Norse and McManus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lƣợng các loài trong một quần xã sinh vật).
Nay có ít nhất 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học. Định nghĩa đƣợc đƣa ở trên là định nghĩa đƣợc dùng trong Công ƣớc Đa dạng sinh học.[64] Ở Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [34] đã định nghĩa “ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất, gồm các sinh vật phân cắt đến động - thực vật ở trên cạn cũng nhƣ dƣới nƣớc, từ mức độ phân tử AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài ngƣời. Khoa học nghiên cứu về tính đa dạng đó gọi là ĐDSH”. Ở đây, ĐDSH đƣợc hiểu theo 3 khía cạnh: đa dạng ở mức độ di truyền, đa dạng mức độ loài, đa dạng ở mức độ sinh thái.
* Đa dạng loài Là số lƣợng và sự đa dạng của các loài đƣợc tìm thấy tại một khu vục nhất định tại một vùng nào đó. Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng nhƣ đối với các quần thể khác nhau. Theo Lê Trọng Cúc, đa dạng sinh học đƣợc sử dụng đồng nghĩa với đa dạng loài, vì nghiên cứu đa dạng sinh học chủ yếu đề cập đến số lƣợng các loài.[11] 4 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ * Đa dạng sinh thái Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng nhƣ ở nƣớc tạo một vùng nào đó [67]. Sự đa dạng này đƣợc phản ánh quan trọng nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển.
Thảm thực vật Có nhiều khái niệm về thảm thực vật đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra: Theo J. Còn theo Trần Đình Lý (1998) thì “Thảm thực vật là lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay trên toàn bộ bề mặt trái đất”[25]. Theo khái niệm này thảm thực vật mới chỉ là một khái niệm chung chƣa chỉ rõ đăc trƣng hay phạm vi không gian của một đối tƣợng cụ thể. Nó chỉ có nội hàm cụ thể khi có tính ngữ kèm theo nhƣ “Thảm thực vật Xuân Thủy”, “thảm thực vật cây bụi”,…v.
Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cây cỏ, nhƣng đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của thảm thực vật là tập thể cây cối đƣợc hình thành do một số lƣợng những cá thể của loài thực vật tập hợp lại. Thực vật ngập mặn Theo tổ chức FAO, rừng ngập mặn là những cây gỗ, cây bụi mọc dƣới triều cao của triều cƣờng. Theo Colin Field, rừng ngập mặn là những cây thƣờng xanh có đặc điểm sinh lý giống nhau, có cấu trúc thích nghi với nơi bị ảnh hƣởng của thủy triều (dẫn theo Phan Nguyên Hồng, 1991) [14]. Saenger và cộng sự (1983) cũng mô tả rừng ngập mặn nhƣ là hệ cây rừng ven biển của vùng duyên hải nhiệt đới và á nhiệt đới.
Vì thế thuật ngữ rừng ngập mặn đã đƣợc sử dụng để cho các cây sống trong bùn, đất ƣớt ở vùng triều nhiệt đới và á nhiệt đới [53]. Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu còn gọi là rừng ven biển, rừng triều nhƣ là rừng ngập mặn. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Theo Phan Nguyên Hồng (1999), rừng ngập mặn thƣờng ở vùng chuyển tiếp giữa môi trƣờng biển và đất liền, tác động của các nhân tố sinh thái ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phân bố của chúng. Các cây ngập mặn có biên độ thích nghi rất rộng với khí hậu, đất, nƣớc, độ mặn [15].