Tổng quan nghiên cứu

Khu vực cửa sông Đà Diễn thuộc thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, là nơi tiếp giáp cuối cùng của dòng sông Ba với Biển Đông, giữ vị trí then chốt trong mạng lưới giao thông thủy và kinh tế biển của toàn khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Vùng biển này hiện là nơi neo đậu thường xuyên của hơn 900 tàu cá đánh bắt hải sản xa bờ, đồng thời phát triển thành một trong những trung tâm dịch vụ hậu cần và thương mại cá ngừ đại dương quy mô lớn nhất miền Trung. Tuy nhiên, chế độ thủy động lực phức tạp tại khu vực hạ lưu sông Ba đã gây ra tình trạng bồi lấp luồng tàu nghiêm trọng vào mùa kiệt và sạt lở bờ biển dữ dội trong mùa lũ. Trong lịch sử quan trắc, cửa sông Đà Diễn từng ghi nhận các đợt bồi lấp hoàn toàn vào các năm 1990, 1998 và 2007, khiến tàu thuyền hoàn toàn tê liệt. Ngược lại, vào những trận lũ lịch sử điển hình như năm 1993 với lưu lượng xả đạt đỉnh 21.500 m3/s tại trạm thủy văn Củng Sơn, họng cửa sông đã bị mở rộng đột biến trên 1.000 mét.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng tác động tương hỗ giữa các yếu tố thủy động lực bao gồm dòng chảy sông, chế độ sóng, thủy triều và quá trình vận chuyển bùn cát dọc bờ đến xu thế ổn định theo mùa và chu kỳ năm tại cửa Đà Diễn. Nghiên cứu xác lập khoảng diện tích mặt cắt ngang cân bằng ổn định tại họng sông nhằm đưa ra cơ sở khoa học vững chắc cho công tác chỉnh trị luồng tàu và bảo vệ bờ. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giảm thiểu tổn thất kinh tế cho ngành khai thác thủy sản địa phương, hỗ trợ bảo vệ an toàn cho cơ sở hạ tầng đô thị Tuy Hòa với quy mô dân số hơn 887,4 nghìn người và bảo vệ tuyến bờ biển có giá trị đầu tư hàng trăm tỷ đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của ba hệ thống lý thuyết thủy động lực và hình thái học ven biển:

Lý thuyết giản đồ cân bằng ổn định Escoffier mở rộng: Dựa trên nền tảng phân tích trạng thái cân bằng động của Escoffier kết hợp với sự cải tiến của các nghiên cứu hiện đại, mô hình đã đưa thêm ảnh hưởng của lưu lượng dòng chảy sông và dòng vận chuyển bùn cát dọc bờ. Đường cong thực của dòng chảy được xác lập thông qua giải nghiệm giải tích phương trình bậc bốn bằng phương pháp lặp số Newton-Raphson, cho phép tìm điểm nút cân bằng ổn định giữa ứng suất cắt đáy tối đa và diện tích mặt cắt ngang họng sông.

Lý thuyết chỉ tiêu ổn định P.Bruun: Đánh giá trạng thái cân bằng của cửa sông thông qua các tỷ số thủy động lực kinh nghiệm, bao gồm tỷ số lăng trụ triều trên lượng bùn cát vận chuyển dọc bờ hàng năm (P/M), tỷ số lưu lượng đỉnh triều trên bùn cát (Qm/M), và chỉ tiêu ứng suất cắt đáy tới hạn duy trì sự ổn định nằm trong dải từ 0,35 đến 0,51 kg/m2. Cùng với đó, công thức CERC được áp dụng để lượng hóa suất vận chuyển bùn cát dọc bờ dưới tác động của năng lượng sóng biển.

Khung phân loại động lực học cửa sông: Vận dụng cách tiếp cận tam giác động lực học của Galloway để phân định mức độ chiếm ưu thế tương đối giữa ba thành phần: dòng chảy lục địa, năng lượng sóng và biên độ dòng triều. Nghiên cứu làm rõ các khái niệm về cửa sông dạng nêm mặn, độ đục trầm tích và cơ chế bồi tụ doi cát chắn cửa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn cơ sở dữ liệu: Nghiên cứu thu thập và kế thừa chuỗi dữ liệu thực đo nhiều năm đồng bộ bao gồm: chuỗi số liệu lưu lượng dòng chảy ngày 40 năm tại trạm thủy văn Củng Sơn (giai đoạn 1977 – 2016); chuỗi số liệu mực nước thủy triều giờ 37 năm tại trạm hải văn Hòn Chùa (giai đoạn 1980 – 2016); chuỗi dữ liệu tái phân tích trường sóng toàn cầu 39 năm (giai đoạn 1979 – 2017); dữ liệu địa hình và trắc đạc đáy biển chi tiết từ Đề tài cấp Nhà nước mã số ĐTĐL.15/15.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Toàn bộ tập dữ liệu quan trắc liên tục với hơn 14.600 giá trị lưu lượng ngày và hơn 320.000 bước thời gian quan trắc mực nước triều được chọn mẫu toàn phần. Phương pháp phân tích thống kê biểu đồ hộp (Boxplot) được áp dụng nhằm trích xuất các giá trị trung vị, phân vị 25%, 75% và các giá trị cực trị đại diện cho 3 giai đoạn mùa đặc trưng trong năm.

Phương pháp phân tích số trị: Ứng dụng bộ công cụ mô hình toán MIKE 21 bao gồm: mô đun MIKE 21 SW mô phỏng sự truyền sóng và tán xạ năng lượng sóng trên lưới phi cấu trúc; mô đun MIKE 21 FM HD giải hệ phương trình dòng chảy 2 chiều Navier-Stokes trung bình Reynolds; mô đun MIKE 21 MT mô phỏng vận chuyển và lắng đọng bùn cát hạt mịn. Lý do lựa chọn tổ hợp mô hình này là khả năng mô phỏng chi tiết tương tác phi tuyến giữa sóng và dòng chảy ven bờ tại các vùng địa hình phức tạp, nơi lưới phi cấu trúc tam giác phát huy tối đa độ chính xác hình học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Sự phân hóa sâu sắc của dòng chảy sông Ba theo mùa: Phân tích chuỗi số liệu 40 năm cho thấy tổng lượng nước trung bình nhiều năm của lưu vực sông Ba đạt khoảng 9,8 tỷ m3, nhưng có sự phân bố không đều nghiêm trọng. Lưu lượng mùa lũ (tháng 10 – 12) chiếm tới 71,8% tổng lượng dòng chảy cả năm, với đỉnh lũ cao nhất rơi vào tháng 11 đạt lưu lượng trung bình 862,16 m3/s (chiếm 25,85% lượng dòng chảy năm). Trong khi đó, mùa kiệt kéo dài suốt 8 tháng (tháng 1 – 8) chỉ chiếm 29,2% lượng nước toàn năm, đáy kiệt xuất hiện vào tháng 4 với lưu lượng trung bình chỉ đạt 47,23 m3/s (tương đương 1,42%). Tỷ số chênh lệch lưu lượng giữa tháng đỉnh lũ và tháng đáy kiệt lên tới hơn 18 lần.

Đặc trưng chế độ sóng và dòng bùn cát dọc bờ theo mùa: Dữ liệu phân tích chỉ rõ sự chia tách thành hai chế độ sóng tương ứng với hai mùa gió. Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), hướng sóng thịnh hành là Đông Bắc với góc hợp bởi đỉnh sóng và đường bờ rất lớn, tập trung từ 75° đến 85°, độ cao sóng trung bình từ 0,9 đến 1,0 m và cực đại lên tới 4,0 m. Năng lượng sóng mạnh kết hợp góc tới lớn đã tạo ra dòng vận chuyển bùn cát dọc bờ có hướng từ Bắc xuống Nam với cường độ cực lớn. Ngược lại, trong thời kỳ gió mùa Tây Nam (tháng 5 đến tháng 9), hướng sóng chuyển dịch sang Đông Nam và Nam, góc tới bờ dao động rộng từ 30° đến 70°, độ cao sóng giảm xuống chỉ còn khoảng 0,5 đến 0,8 m.

Đặc tính vận chuyển trầm tích tại cửa sông: Hàm lượng bùn cát lơ lửng tại trạm Củng Sơn đạt trung bình 228,0 g/m3, với tháng 10 đạt cực đại 294,2 g/m3, cao gấp 16 lần so với tháng 3 (chỉ đạt 18,3 g/m3). Đường kính hạt trung vị d50 của trầm tích đáy vùng cửa sông biến thiên từ 0,003 mm đến 1,4 mm. Trong đó cát thô chiếm dải từ 0,7 đến 1,4 mm và cát mịn chiếm dải từ 0,08 đến 0,2 mm.

Trạng thái ổn định mặt cắt theo giản đồ Escoffier và chỉ tiêu Bruun: Trong giai đoạn mùa kiệt (tháng 1 – 4), tỷ số P/M rơi xuống mức dưới 50, ứng suất cắt đáy tại họng sông suy giảm sâu dưới ngưỡng tới hạn 0,35 kg/m2, đẩy cửa sông vào trạng thái kém ổn định và bồi lấp mạnh. Khi bước vào mùa lũ (tháng 10 – 12), lưu lượng sông tăng đột biến đã đẩy đường cong thực của giản đồ Escoffier tịnh tiến lên trên, tạo ra ứng suất cắt đáy lớn hơn 0,51 kg/m2, làm trôi dạt toàn bộ bùn cát lắng đọng và mở rộng diện tích thoát lũ.

Thảo luận kết quả

Cơ chế bồi lấp và biến động hình thái: Vào mùa kiệt, do lưu lượng nước ngọt từ sông Ba đổ ra biển quá nhỏ, động lực sông hoàn toàn bị lấn át bởi động lực sóng biển. Sóng Đông Bắc mang một lượng bùn cát khổng lồ dịch chuyển dọc bờ bồi tụ vào cửa, tạo thành doi cát ngầm tiến dần từ bờ Bắc sang bờ Nam làm tắc nghẽn luồng chạy tàu. Đến mùa lũ, năng lượng dòng chảy sông khổng lồ đóng vai trò lực đẩy chủ đạo, cắt đứt các doi cát chắn cửa và giải phóng lòng dẫn. Tuy nhiên, việc dòng chảy lũ xói mạnh cũng kéo theo hiện tượng phá hủy dải cát bờ Nam, như sự cố sạt lở nghiêm trọng sau trận lũ tháng 11 năm 2017 buộc địa phương phải gia cố kè đá khẩn cấp.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng: Kết quả này hoàn toàn tương thích với các kết luận của nhiều nghiên cứu cửa sông ven biển miền Trung, tái khẳng định quy luật cửa sông Đà Diễn thuộc loại hình cửa sông đóng mở theo mùa có vị trí tương đối cố định nhưng biến động mạnh về kích thước hình thái mặt cắt ngang.

Mô tả hiển thị trực quan: Các kết quả phân tích được biểu diễn trực quan thông qua hệ thống biểu đồ hộp phân tích dải biến động của chiều cao và chu kỳ sóng, giản đồ Escoffier mở rộng với các đường cong thực thay đổi theo cấp lưu lượng dòng chảy và biểu đồ quan hệ giữa diện tích mặt cắt A với lưu lượng đỉnh triều Qm được trích xuất từ 7 mặt cắt ngang địa hình trên mô hình MIKE 21.

Đề xuất và khuyến nghị

Xây dựng hệ thống công trình đê chắn sóng và kè hướng dòng: Tiến hành quy hoạch và thi công đê chắn cát mỏ hàn tại bờ Bắc với chiều dài dự kiến khoảng 400 đến 500 mét kết hợp kè hướng dòng bờ Nam nhằm ngăn chặn trên 70% lượng bùn cát dọc bờ xâm nhập vào luồng tàu trong mùa gió Đông Bắc. Dự án cần được triển khai hoàn thành trong giai đoạn 2026 – 2028 dưới sự quản lý của Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Các công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên.

Thiết lập quy trình nạo vét duy tu luồng hàng hải định kỳ: Thực hiện nạo vét định kỳ luồng hàng hải đạt chuẩn độ sâu âm 3,5 đến âm 4,0 mét phục vụ an toàn cho đội tàu hơn 900 chiếc. Thời điểm nạo vét tối ưu là vào cuối tháng 4 hàng năm (giai đoạn chuyển tiếp giữa hai mùa gió) với khối lượng khống chế từ 150.000 đến 200.000 m3/năm, do Chi cục Thủy sản phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa tổ chức giám sát thực hiện.

Điều tiết dòng chảy tối thiểu từ hệ thống thủy điện thượng nguồn: Thống nhất quy chế vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba (đặc biệt là thủy điện Sông Ba Hạ và Sông Hinh) nhằm duy trì lưu lượng xả môi trường về hạ du trong các tháng kiệt nhất (tháng 3 và tháng 4) không thấp hơn 80 m3/s. Giải pháp này giúp duy trì ứng suất cắt đáy tại họng sông trên mức 0,40 kg/m2, hạn chế tốc độ bồi lấp tự nhiên do Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam chủ trì điều phối.

Thiết lập hệ thống quan trắc và cảnh báo biến động bờ biển tự động: Lắp đặt trạm quan trắc tự động đo sóng, mực nước và camera chuyên dụng giám sát đường bờ tại cửa Đà Diễn với tần suất truyền dữ liệu 15 phút/lần, triển khai trong giai đoạn 2026 – 2027 do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Yên làm đầu mối kỹ thuật.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Thủy văn, Hải dương học và Kỹ thuật ven biển: Cung cấp khung phương pháp số trị hoàn chỉnh kết hợp mô hình MIKE 21 và giản đồ Escoffier mở rộng để nghiên cứu các bài toán động lực học hình thái cửa sông chịu ảnh hưởng phức tạp của sóng gió mùa.

Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Đem lại nguồn cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy giúp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên cùng Ủy ban nhân dân thành phố Tuy Hòa phê duyệt các quy hoạch phát triển cảng cá, nạo vét thông luồng và phòng chống thiên tai xói lở bờ biển.

Kỹ sư thiết kế công trình thủy văn, cảng và đường thủy: Tham khảo các thông số tính toán về mặt cắt cân bằng ổn định, trường vận tốc cực đại và ứng suất cắt đáy để tính toán thiết kế kết cấu đê kè chắn sóng và ổn định lòng dẫn bền vững.

Ban quản lý cảng cá và cộng đồng ngư dân thành phố Tuy Hòa: Giúp nắm bắt quy luật biến động đóng mở luồng lạch theo từng tháng trong năm để xây dựng kế hoạch điều hướng tàu thuyền ra khơi và cập bến an toàn, hạn chế tối đa rủi ro mắc cạn và tai nạn hàng hải.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cửa sông Đà Diễn luôn bị bồi lấp nghiêm trọng vào các tháng mùa khô? Hiện tượng này xuất phát từ sự suy giảm mạnh của dòng chảy sông Ba trong mùa kiệt, đặc biệt tháng 4 lưu lượng chỉ còn 47,23 m3/s (chiếm 1,42% lượng nước cả năm). Năng lượng dòng chảy không đủ để tạo ra ứng suất cắt đáy thắng được tác động của sóng Đông Bắc có độ cao từ 1,0 đến 4,0 m, khiến lượng bùn cát lớn bị sóng đẩy vào bồi tụ chắn ngang họng sông.

Trận lũ năm 1993 đã tác động đến hình thái cửa sông Đà Diễn như thế nào? Trận lũ lịch sử năm 1993 ghi nhận lưu lượng đỉnh lũ lên tới 21.500 m3/s đo tại trạm Củng Sơn. Động năng khổng lồ của dòng nước lũ đã phá vỡ toàn bộ các bar cát bồi lấp, xói trôi trầm tích đáy và mở rộng họng cửa sông ra hơn 1.000 mét chỉ trong một thời gian ngắn.

Giản đồ Escoffier mở rộng mang lại ưu điểm gì so với giản đồ truyền thống? Giản đồ Escoffier truyền thống chỉ áp dụng cho cửa sông chịu tác động thuần túy của triều và sóng. Phiên bản mở rộng được nhóm nghiên cứu ứng dụng đã tích hợp thêm hàm số lưu lượng dòng chảy sông và năng lượng sóng thay đổi theo mùa, cho phép xác định chính xác các điểm cân bằng ổn định của cửa sông có chế độ thủy văn phân mùa rõ rệt.

Chỉ tiêu P/M của P.Bruun mang ý nghĩa thực tiễn ra sao trong việc đánh giá cửa sông? Tỷ số giữa lăng trụ triều P và lượng bùn cát vận chuyển dọc bờ hàng năm M thể hiện khả năng tự xói sạch của cửa sông. Khi tỷ số P/M nhỏ hơn 50, cửa sông thuộc trạng thái kém ổn định, các bãi bồi phát triển mạnh và đòi hỏi phải có công trình nhân tạo can thiệp để duy trì luồng chạy tàu.

Cần lưu ý những nguyên tắc kỹ thuật nào khi tiến hành nạo vét luồng lạch cửa Đà Diễn? Công tác nạo vét bắt buộc phải dựa trên cơ sở tính toán mặt cắt cân bằng thủy lực, khống chế độ sâu nạo vét âm từ 3,5 đến 4,0 mét và chọn đúng thời điểm cuối mùa khô. Việc nạo vét tự phát sai vị trí sẽ gây mất cân bằng động lực, dẫn tới hiện tượng xói lở chân kè bờ Nam tương tự như sự cố năm 2017.

Kết luận

  • Xác lập được bộ cơ sở dữ liệu định lượng chi tiết về đặc trưng sóng, thủy triều, lưu lượng dòng chảy và bùn cát vùng hạ lưu sông Ba trong hơn 35 năm quan trắc.
  • Phân định rõ nét 3 giai đoạn thủy động lực theo mùa chi phối quy luật bồi lấp và xói lở hình thái vùng cửa sông Đà Diễn.
  • Ứng dụng thành công giản đồ Escoffier mở rộng kết hợp chỉ tiêu P.Bruun và mô hình số trị MIKE 21 để xác định dải mặt cắt ngang ổn định tại họng sông.
  • Cung cấp luận cứ khoa học giải thích cơ chế bồi lấp đóng cửa vào mùa khô và nguy cơ xói lở dải cát bờ Nam trong mùa mưa lũ.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình với mục tiêu bảo vệ bền vững cơ sở hạ tầng ven biển và phục vụ an toàn cho hơn 900 tàu cá.

Đóng góp chính của luận văn là việc làm sáng tỏ cơ chế cân bằng động lực học cửa sông theo mùa tại miền Trung Việt Nam, cung cấp công cụ tính toán tin cậy cho các bài toán chỉnh trị ven bờ. Bước tiếp theo trong giai đoạn 2026 – 2030 là mở rộng đánh giá tác động của các kịch bản nước biển dâng và biến đổi khí hậu toàn cầu đến hình thái cửa sông. Hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác chi tiết các bảng thông số thủy lực, bản đồ trường dòng chảy và phương pháp thiết lập mô hình tính toán chuyên sâu.