Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Chương 3: Thực trạng thực thi và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI 1.
Khái quát chungvề đăng ký hộ tịch có yếu tố nƣớc ngoài 1. Khái niệm đăng ký hộ tịch Xét về khía cạnh ngôn ngữ “Hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập. Theo đó từ “hộ” có nghĩa là “dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số gồm những người cùng ăn ở với nhau, còn từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”.Tuy nhiên có nhiều cách giải nghĩa từ “Hộ tịch” khác nhau như Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “Hộ tịch” trong cuốn Hán -Việt từ điển xuất bản năm 1960 như sau: “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [21, tr.404] hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “Hộ tịch” trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989 “ Hộ tịch: quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [22, tr. Có thể nhận thấy theo cách giải nghĩa từ “Hộ tịch” của các tác giả Nguyễn Văn Khôn, Nguyễn Lân tuy rằng khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều giải nghĩa “Hộ tịch” có nét khá tương đồng, “Hộ tịch” là quyển sổ chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân.
Một cách hiểu khác về “Hộ tịch” trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 đã được tác giả Nguyễn Như Ý trình bày đó là: “Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [43, tr 835] hay“Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần”[14, tr.385]của 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả Nguyễn Văn Đạm trong cuốn từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt, xuất bản năm 1999. Về phía cạnh pháp lý, thuật ngữ “Hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan niệm “Hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo xuất bản năm 1958 như sau: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử" [36, tr. Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “Hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật xuất bản năm 1968: “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà.
Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử". Trong văn bản pháp lý đầu tiên về đăng ký hộ tịch của Việt Nam là Nghị định số 764-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 8/5/1956 ban hành điều lệ đăng ký hộ tịch chưa đưa ra khái niệm đăng ký hộ tịch là gì, tuy nhiên tại Điều 1 Nghị định số 764-TTg đã đưa ra mang tính liệt kê các sự kiện đăng ký hộ tịch bao gồm: “ Đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch và cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy”. Sau đó tại Điều 1 Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký, quản lý hộ tịch và Điều 1 Nghị định số 158/2005/NĐ- CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch đều đưa ra khái niệm Hộ tịch như sau “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Công tác hộ tịch bao gồm hoạt 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động đăng ký hộ tịch, quản lý hộ tịch và những hoạt động khác có liên quan đến quản lý hộ tịch và đăng ký hộ tịch.
Trong đó đăng ký hộ tịch là việc cơ quan có thẩm quyền: “ Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; Căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi”. Theo quy định tại Điều 3 của Luật Hộ tịch năm 2014 cũng giống như Nghị định 158/2005/NĐ-CP, có hai nhóm hành vi với tính chất khác nhau trong đăng ký hộ tịch: - Hành vi xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện: Đối với các sự kiện tại khoản 1 Điều 3 của Luật Hộ tịch, cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào sổ dành riêng cho từng loại việc đồng thời cấp cho đương sự giấy chứng nhận, trích lục hộ tịch về việc đó như Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, trích lục cải chính…Hành vi xác nhân của cơ quan đăng ký hộ tịch đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện được đăng ký. Chỉ sau khi đăng ký các sư kiện đó mới phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của cá nhân. - Hành vi ghi vào sổ hộ tịch khác với hành vi xác nhận, là đối với các loại việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành ghi chú việc đó vào Sổ hộ tịch.
Điểm phân biệt cơ bản giữa hành vi này với nhóm hành vi xác nhận là hành vi phát sinh sau và không làm phát sinh hiệu lực pháp lý. Như vậy sự kết hợp giữa cách hiểu “Hộ tịch” và “Đăng ký hộ tịch” mới có thể mang lại cách hiểu đầy đủ nhất về khái niệm “Hộ tịch”. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài Khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự 2015, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau: - Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; - Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; - Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Vậy quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài dưa trên 3 yếu tố, chủ thể là người nước ngoài, đối tượng của quan hệ là tài sản ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Để hiểu thể nào là yếu tố nước ngoài trong đăng ký hộ tịch được xem xét trên các khía cạnh sau *Yếu tố chủ thể: Hộ tịch mang yếu tố về nhân thân vì vậy chủ thể trong đăng ký hộ tich là cá nhân. Theo khoản 2 Điều 663 của Bộ luật dân sự năm 2015 “Có ít nhất một bên là cá nhân, pháp nhân nước ngoài” Cá nhân nước ngoài: Bao gồm người mang quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch (Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, sửa đổi bổ sung 2014).
Nhưng theo quy định Luật hộ tịch thì “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” được coi là có yếu tố nước ngoài trong đăng ký hộ tịch. Ví dụ: Theo quy định tại khoản 1, Điều 37 của Luật Hộ tịch có quy định “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài” Vậy chủ thể trong đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài được xác định như sau: + Đượng sự là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và các sự kiện hộ tịch phát sinh ở Việt Nam, ví dụ như: Việc sinh, tử của người nước ngoài tại Việt Nam. Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam + Một bên đương sự là người Việt Nam còn bên kia là người nước ngoài + Giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. + Giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau + Giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.
* Yếu tố sự kiện pháp lý: Sự kiện đăng ký hộ tịch giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài. Ví dụ: Việc khai sinh cho trẻ em sinh ra ở nước ngoài về cư trú tại Việt Nam; Ghi vào sổ hộ tịch việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. * Việc đăng ký hộ tịch giữa công dân Việt Nam nhưng đối tượng quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Đối tượng ở đây không chỉ là tài sản mà còn có thể là các hành vi thực hiện ở nước ngoài (như thực hiện công việc ở nước ngoài).